ĐI TÌM CÂY NGÔ ĐỒNG TRONG BÀI DÂN CA "LÝ CHIỀU CHIỀU

By Nguyễn Lâm Cúc

 

Nguyễn Lâm Cúc

            Không biết từ bao giờ bài dân ca Lý chiều chiều thấm vào tôi để tôi lúc buồn lúc vui nếu không hát thành lời thì cũng ậm ừ ngân nga giai điệu. Những khi đi đâu đó bất chợt từ chiếc loa ẩn kín trong xe vang lên lời hát mượt mà trữ tình của điệu lý này tôi bần thần như say.

"Chiều chiều ra đứng lầu tây
 
Thấy cô gánh nước tưới cây ngô đồng

Xui trong lòng tui thương
Thương cô tưới cây ngô đồng"

Lời của điệu lý này có nhiều bản khác nhau chút ít:

     "Chiều chiều ra đứng lầu tây
     Thấy cô tang tình gánh nước
     Tưới cây tưới cây ngô đồng
     Xui ai xui trong lòng
     Trong lòng anh thương
     Thương ai tưới cây ngô đồng."

Yêu khúc dân ca tôi tò mò muốn biết cái cây "Ngô đồng" trong bài hát này là cây ngô đồng nào? Là một cây thật hay một kiểu " Lá diêu bông" và vì sao cô gái phải gánh nước tưới mỗi chiều để người đứng trên "lầu Tây" thương cảm?

            Theo nhiều tài liệu thì cây Ngô đồng xuất hiện lâu đời nhất là ở Huế. Tương truyền cây  được đưa từ Quảng Đông (Trung Quốc) về trồng ở hai bên góc điện Cần Chánh-Đại Nội từ thời Minh Mạng. Thời vua Minh Mạng Ngài đã  sai người lên núi tìm kiếm mang về trồng thêm ở nhiều nơi khác. Như sau Điện Thái Hòa ở Tả Vu Hữu Vu. Sau này cây còn được trồng Hở các công viên như Tứ tượng Thương Bạc Phu Văn Lâu và các lăng Minh Mạng Tự Đức. Với người Huế cây ngô đồng mang nhiều ý nghĩa. Nhất là  mùa hoa những cành bông tim tím  lặng lẽ nghiêng mình xuống các mái lầu tạo nên một khung cảnh mộng mơ huyền hoặc xứ Thần Kinh.

            Cây ngô đồng  miêu tả trên  được nhà thơ nhà văn nhìn nhận chính là cây ngô đồng trong hai câu thơ nổi tiếng đời nhà Đường Trung Quốc của nhà thơ  Lý Thương Ẩn:

"Ngô đồng nhất diệp lạc

Thiên hạ cộng tri thu

(Một lá ngô đồng rụng

Cả thiên hạ biết mùa thu tới)"

            Tuy nhiên cũng có nhiều người gọi cây vong nem cây vong đồng cây bả đậu và thậm chí cả cây hoa gạo là cây ngô đồng.

            Thế những cây ngô đồng trên có phải chính là cây ngô đồng trong bài dân ca Lý chiều chiều hay không? Trước hết hãy tham khảo thêm về thơ. Nhà thơ Bích Khê có hai câu thơ nổi tiếng về cây ngô đồng:



     "Ô hay buồn vương cây ngô đồng
     Vàng rơi vàng rơi thu mênh mông"

            Như vậy cây ngô đồng tỏa bóng trên kinh thần Huế hay những cây vong nem vong đồng cây bả đậu và thậm chí cây trong thơ của nhà thơ Bích Khê đều là những cây gỗ có tuổi thọ hang chục hang trăm năm xét về mặt phổ thông  thì không phải tưới. Như vậy những cây ngô đồng trên không thể là cây trong bài dân ca Lý chiều chiều. Bởi vì bài dân ca này là dân ca miền Nam. Câu tục ngữ sau đây khẳng định điều đó " Nam Lý Bắc Thơ Huế Hò" .  Điệu lý sau đây dù chỉ đọc hai câu thơ cũng thấy được "chất" Nam Bộ nằm trong câu chữ:

            "Con cua quậy ở dưới hang

            Nó nghe giọng lý kềnh càng bò lên!"

                                                                  (Lý con cua quầy)

Thế thì nếu phải tưới những cây ngô đồng vương giả chốn kinh đô thế kỷ trước người ta sẽ sáng tạo ra điệu Hò chứ không phải điệu Lý. Trong miền Nam hầu như không có cây ngô đồng để "đánh rơi chiếc lá khiến cả thiên hạ biết thu về" hay cây ngô đồng trong thơ Bích Khê  "Ô hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi vàng rơi thu mênh mông". Mà chỉ có những cây vong nem cây bả đậu cây vong đồng cây gạo trên những triền sông. Những loài cây trên chẳng ai tưới làm gì cả? Bởi cho đến nay chúng vẫn mọc đầy trong những khu rừng ngoài đồng ít người dân chú ý bởi gỗ không tốt ít hữu dụng.

Trở lại với bài dân ca Lý chiều chiều chúng ta nhận thấy bài này có đặc điểm chung với những điệu lý khác đó là lời ca ngắn gọn chỉ có một lời giai điệu có những quãng xa rất sâu lắng giàu thương cảm. Nội dung của điệu Lý  phần lớn dựa trên cơ sở của lối thơ lục bát láy đi láy lại. Nhấn. Nhá.  Đa tình.

"Chiều chiều ra đứng lầu tây
Thấy cô gánh nước tưới cây ngô đồng
Xui trong lòng tui thương
Thương cô tưới cây ngô đồng"

          Khi giai điệu vang lên bạn nhắm mắt lại và sẽ thấy một cô gái bận áo bà ba ôm tấm eo thon thả. Cô quảy đôi gánh với bước đi uyển chuyển. Chiều chiều cô gánh nước ngang qua dưới lầu Tây. Ai hỏi cô nói đi tưới ngô đồng. Thế tại sao phải tưới mỗi chiều? Cô ngước nhìn một cách kín đáo lên phía lầu Tây má đỏ lựng. Trên lầu Tây một chàng công tử  cũng vừa xuất hiện trên ban công chàng nhìn xa xa...nơi ấy có một bãi cây cỏ xanh  mượt! Vậy chẳng buồn cười lắm sao nếu dưới mắt chàng  cô gánh nước tưới một cây cổ thụ cành lá xum xuê!? Không! Nhất định cô đã tưới một đám bắp ngô được trồng trên cánh đồng gần với lầu Tây nơi mắt chàng không thể rời!

          Thế nhưng người miền Nam không ai gọi quả ngô tất thảy đều sẽ gọi trái bắp. Không gọi trồng cây ngô mà gọi trồng cây bắp? Vậy lý do gì không viết tưới cây bắp  lại được viết " tưới cây ngô đồng"?

          Thế phải chăng tác giả "Lý chiều chiều" là một người miền Bắc?

Có thể chính là Công tử chiều chiều đứng trên lầu Tây. Chàng đắm chìm trong điệu Lý vừa đắm đuối nhìn cô gái trong bức tranh chiều êm đềm của miền Nam. Rồi  Chàng mang đàn ra những nốt nhạc bay lượn trên phím. Câu từ được chọn lọc. Chàng không quen tiếng gọi cây bắp bèn xử lý danh từ cây bắp thành cây "ngô đồng" ( cây ngô trồng trên cánh đồng) bằng kết hợp vốn từ miền Bắc cùng từ miền Nam; kết hợp tình yêu điệu Lý với tình yêu Thôn nữ một cách tinh tế   nhuần nhuyễn và tha thiết . Chàng đã làm nên một kiệt tác ?

More...

CUỘC CHIẾN PHÁ VỠ NIÊM LUẬT THƠ DIỄN RA KHI NÀO?

By Nguyễn Lâm Cúc

 


( Ảnh cóppy từ mạng Internet)

Chuyện cũ viết lại Nguyễn Lâm Cúc


Xảy ra lâu rồi đã hàng trăm năm còn gì? Nhưng ngày nay chắc chắn có nhiều người chưa biết tường tận vì lười tìm hiểu vì không muốn biết vì muôn ngàn điều khác...Trong số những người chưa biết ấy có tôi vì vậy tôi viết lại bài viết này trước hết là để thỏa mãn cái sự tò mò của riêng mình về một "lịch sử" từng gióng dã những hồi chuông chôn vùi cái cũ trong thơ phá vỡ thể thơ niêm luật chặt chẽ và đẩy nền thi ca Việt Nam phát triển một bước dài.

Theo nhà phê bình lỗi lạc nhất của nền văn học Việt Nam trong thế kỷ XX và cho đến cả hôm nay nữa đó là ông Hoài Thanh ( trong Thi Nhân Việt Nam do nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1999 và căn cứ vào bài viết : MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA- HOÀI THANH trong Thơ mới- Tác phẩm và lời bình. Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2007) thì lời tuyên chiến  với niêm luật thơ hay còn gọi là thơ cũ được ông Phan Khôi gửi đi vào tháng 3 năm 1932 trên tờ Phụ nữ tân văn. Sau phát súng đầu tiên ấy hàng loạt nhà thơ đã hưởng ứng đứng đầu là nhà thơ  Lưu Trọng Lư rồi nhà thơ Thế Lữ Vũ Đình Liên Nguyễn Nhược Pháp Nhất Linh Đoàn Phú Tứ Huy Thông Vũ Hoàng Chương...càng về sau những người viết theo thơ mới càng đông họ được người yêu thơ trong nước thời bấy giờ chấp nhận. Nhà phê bình Hoài Thanh miêu tả: " Ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân dõng dạc bước ra trận." "Đem ý  thật có trong tâm khảm mình tả bằng những câu có  vần mà không bị bó buộc bởi niêm luật gì hết"

Có lẽ cũng nên khái quát lại một chút về thơ niêm luật đã thịnh hành ở Việt Nam trước đó. Tôi cũng xin trích lại một đoạn trong bài viết MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA VIỆT NAM của nhà phê bình Hoài Thanh : " Đã lâu   người mình làm thơ chỉ làm những bài thơ tám câu mỗi câu bảy chữ. Theo ông Phan Khôi lỗi ấy qui cho khoa cử. Phép thi ngày xưa bắt học trò vào trường nhì làm một bài thơ theo thể thất ngôn luật. Thể thất ngôn luật vốn mượn của thi nhân đời Đường nhưng khi người ta đưa nó vào khoa cử nó bó buộc gấp mấy luật Đường. Theo luật Đường trong một bài thơ tám câu bốn câu giữa gọi là câu tam tứ câu ngũ lục và muốn nói gì thì nói. Phép khoa cử bắt phải gọi câu tam tứ là câu thực nghĩa là phải giải thích đầu đề cho rõ ràng hai câu ngũ lục là câu luận nghĩa là phải đem ý đầu bài bàn rộng ra. Thí sinh làm thơ nhất định phải theo qui mô ấy. Không theo hỏng"

Thời bấy giờ trên những tờ nhật báo chủ yếu đăng những bài viết về cuộc bút chiến giữa những người viết thơ mới và những tác giả bảo vệ thành trì đã suy tàn của thơ niêm luật. Ông Hoài Thanh nhận định: " Ở cái xứ vô sự này   câu chuyện văn thơ cơ hồ là câu chuyện độc nhất của số đông thanh niên nam nữ"

Không chỉ có trên mặt báo cuộc chiến này còn diễn ra ở nhiều diễn đàn ở Hà nội Qui Nhơn Quảng trị- Huế Sài Gòn. Trong đó không ít lần là những cuộc đăng đàn tranh luận từ cả hai phía.

Tuy nhiên sau một thời gian xuất hiện những bài thơ mới và được người yêu thơ đón nhận. Người viết tham gia ngày mỗi đông bởi vì cái khát vọng đổi mới : " Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đau đớn." Dấu hiệu đó đã được khẳng định vì cách sau đó vài năm thơ mới bắt đầu được công nhận trong lãnh địa trường học. Còn trên mặt báo thơ mới được người người tìm đọc vì vậy thơ cũ trên sách báo ngày một thưa dần. Mặc dù trong số họ có thi sĩ tài ba Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu khiến ông từng đăng mẩu quảng cáo: "Nhận làm thuê những thứ văn vui buồn thường dùng trong xã hội" hoặc quảng cáo bằng thơ nhận đóan lý số Hà lạc:

"...còn như tiền đặt quẻ

Nhiều 5$ ít có 3$

Nhiều ít tùy ở khách

Hậu bạc kể chi mà"

Đến đây tôi xin được trích kể về phía những nhà thơ bảo vệ thơ niêm luật cũ họ không hề đơn lẽ họ là những khả kính trong xã hội như Hoàng Duy Từ Nguyễn Văn Hanh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ông Tân Việt chủ bút báo Công luận ông Tùng Lâm và nhà hoạt động xã hội  lừng danh chí sĩ Hùynh Thúc Kháng cũng tham gia chống đối phong trào thơ mới.

Trong những bài bút chiến những cuộc tranh luận cái họ đưa ra bảo vệ thơ niêm luật đó là do niêm luật khó người viết thơ vì dốt không thông hiểu như một bọn mù nói mơ. Lại có một nữ thi sĩ tên Bích Ngọc viết lời tựa cho tập thơ " Những bông hoa trái mùa"( đây là tập thơ Đường luật xuất bản trong thời gian này). Trong lời tựa có ý khuyên: Làng thơ nên bỏ " ao ngoài" về tắm " ao ta dù trong dù đục". Một nhà thơ mới đã viết lời phản biện: ..."Dù ao nhà ấy đầy những bùn những vẩn. Tôi buồn người thục nữ có duyên đến thế mà kém vệ sinh"

Nhưng nguy hại cho thơ thật ra không phải vì phong trào thơ mới mà trong ngần ấy năm trời đã  định hình nhiều tên tuổi những nhà thơ Việt Nam với thơ mới thì trong làng thơ cũ không sáng tạo thêm được những bài thơ nào thực sự là thơ. Cho đến ngày nay nhắc đến thơ Đường thơ niêm vận luật lệ chặt chẽ vẫn những nhà thơ gắn với loại thơ này như Bạch Cư Dị Thôi Hiệu Hồ Xuân Hương ...( vì thơ Đường luật là loại thơ thi nhân Việt Nam ảnh hưởng nền thi ca Tàu)  chứ chưa định hình những gương mặt mới với thể thơ cũ. Tài năng nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là người có nhiều khả năng vực dậy sự suy vong của nền thơ cũ...Nhưng bởi v: " cuộc đấu tranh thực ra không chỉ là đấu tranh phá vỡ khuôn khổ gò bó mà là phá bỏ một cái gì đã dùng đi dùng lại đến mòn mỏi y hệt như cả trăm năm người ta hát đi hát lại bấy nhiêu đề thơ bằng  một giọng thơ  không di dịch.

Nhà phê bình Hoài Thanh nhìn sự cuộc ấy và nhận xét : " Cái cảnh thơ cũ lúc tàn không đến đổi buồn tẻ thảm hại như cái cảnh suy vi của nền Khổng học. Năm 1930 ông Phan Khôi viết trên báo Thần Chung SaiGòn một thôi 21 bài chỉ trích Khổng giáo. Thế mà những môn đồ còn sót của đạo Khổng nguội lạnh như không" ( Trích MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA- HOÀI THANH- Trang 144- Tác phẩm và lời bình)

Có lẽ tinh thần Nho Khổng chưa suy vi chỉ chuyển biến hình thái chuyển từ tầng lớp này sang tầng lớp khác như một chiếc áo choàng sang trọng trước đây được giới quí tộc nho sĩ nâng niu thì nay mảnh tàn y ấy vẫn đắc dụng không những gia đình nông dân vừa qua khỏi đói nghèo. Con dao vốn không nguy hại chỉ nguy hại ở chỗ cách dùng của người cầm dao.

Thoáng mà đã gần trăm năm kể từ cuộc chiến phá vỡ cái cũ trong khuôn khổ thơ  đã bị bào mòn. Nhưng nay liệu cái mới phôi thai và định hình từ cuộc chiến đó bây giờ phải chăng lại đang cũ và sự nguy hại là mỗi ngày đang có hàng ngàn bản  rập khuôn như vậy lại ra đời dưới tên thơ nhan nhản?

More...

TIẾNG KHÓC CỦA MỌI THỜI ĐẠI

By Nguyễn Lâm Cúc

 

Tiếng khóc của mọi thời đại


(Hình lấy từ Internet)

Nguyễn Lâm Cúc

         
Quẳng hết mọi công việc nhảy lên một xe khách về SàiGòn rồi "phi" thẳng vào nhà sách Nguyễn Huệ để "chộp" cho được quyển Thơ Trần Dần kẻo nó bị thu hồi thì... biết đến bao giờ mới hội ngộ.

          Cuối cùng tôi cũng đã ghì chặt được Trần Dần trên tay. Quyển sách ấy dày trên 490 trang in trên giấy khổ lớn. Lật nghiêng lật ngửa nhau mất cả tuần tôi mới khám phá xong tuyển tập Trần Dần và ...Buồn. Xong lại buồn.  Buồn mất năm sáu ngày. Một sự ngỡ ngàng khi chạm phải một Trần Dần xa lạ trong Jờ joạch Thơ- Tiểu thuyết- Một bè đệm và nhiều hơn nữa ở những tác phẩm khác.
 

Trang 252. Chương XVI.

".hãy đánh nữ ôtô vào thẳng gara jờ.

.......................................

...........nói 36 cách khác

tôi vẫn ngồi buồng chu vi mưa uống nhau cùng những li jượu nữ.

       

           vũ trụ cần thêm đồ đạcx mọc

tức là con nữ kỉ sư truồng nằm jữa xé sử kí jao cấu trên tôi là thằng TRUỒNG -- ở các mông đít-ism lỗ ngực dây. Truyền nách  mặt lẹm cổ họng

          tàu điện lên bên trên- tan sương......"


          Những câu thơ Jờ Joạch ấy có thể làm cái đầu óc tù mù hổn độn của tôi nổ tung mất! Chia sẻ là biện pháp tốt nhất tôi alô cho Kim Oanh nàng phát thanh ngay.

          Mình cũng không thích những bài thơ khó hiểu của ông Trần Dần. Viết như thách đố nhau vậy. Không hiểu thì làm sao mà gọi la hay được ha Cúc? Đọc thơ mà cứ y như nghe người Ấn Độ đang nói tiếng Hinđu với nhau ngay cả từ cảm ơn cũng không biết thế mà đứng vỗ tay và gật sái cổ để khen thì mình chịu. Vả lại có ai đứng mãi trên đỉnh cao sự nghiệp mà không xúông đâu. Nhà thơ Trần Dần với những tác phẩm như Trường ca Nhất định thắng Đây Bắc Việt hoặc Tiểu thuyết Người người lớp lớp là những đỉnh cao trong sự nghiệp văn chương của Ông. Cúc thấy đó truyền tụng từ đời này sang đời khác về đại thi hào Nguyễn Du trong công chúng rộng rãi vẫn là Truyện Kiều những tác phẩm khác của Ông mấy ai biết đến? Chẳng phải chỉ cần mỗi Truyện Kiều ai ai cũng thừa nhận Nguyễn Du là sao Khuê lấp lánh mãi trên bầu trời văn chương Việt đó sao?

Nhà văn Hoàng Đình Quang từng bộc bạch trên diễn đàn Văn Nghệ Quân Đội " Làm thơ cũng như người đi mót. Dù rất cần mẩn chăm chỉ nhưng cũng có khi được cũng có khi lang thang mãi trên cánh đồng chữ nghĩa và trở về không"

          Ừ nhỉ đâu phải cứ tác giả ấy là mọi bài thơ đều hay? Và tại sao chúng ta hay áp đặt những người lỗi lạc phải tròn trịa phải như Thánh Nhân? Đáng lẽ chúng ta yêu mến họ như con người  của họ vốn có. Mà con người  thì cái đẹp cái chưa đẹp thậm chí cả những cái xấu nữa luôn tồn tại trong cùng một chủ thể. Đừng tô vẽ lên họ những thiên tính như Tiên như Bụt rồi bắt họ thành tượng ngồi trong đền đài. Họ phải sống cuộc đời của họ cùng những thăng trầm và làm những gì họ múôn viết những gì họ tâm đắc chứ?

           Vả lại mỗi con người là một vũ trụ những vũ trụ tồn tại trong bầu trời kia không bao giờ lập lại như nhau. Để hiểu một con người đã khó hiểu hết một tác giả cùng rất nhiều tác phẩm là điều càng không dễ.

Bình tâm với những nhìn nhận đa chiều tôi lại lật giở những trang thơ Trần Dần không cố công khám phá những tác phẩm ngoài sức hiểu biết của tôi mà chăm chú chiêm ngưỡng vẻ đẹp nhân từ tạo nên bằng tư duy và ngôn ngữ  của Ông. Khu vực thơ Mini của Ông là nơi tôi thích lui tới nhiền hơn cả. Với tôi bài thơ hai câu sau đây là một trong những kỳ tác của nhà thơ Trần Dần:


       Tôi khóc những chân trời không có người bay

Lại khóc những người bay không có chân trời

Hai câu thơ mỗi câu một chữ khóc!

Hai câu thơ mỗi lần viết là một lần tâm tư người viết quặn đau dòng mực chảy xúông trang giấy là giọt nước mắt nóng hổi tấm lòng với cuộc đời con người.
 

Tôi khóc những chân trời không có người bay

Đối với đất nước còn nghèo nàn của chúng ta có biết bao chân trời chúng ta chưa thể đặt chân đến. Chỉ riêng khát vọng chiến thắng đội bóng đá Thái Lan thôi mà chúng ta mất những 50 năm. Mà những chân trời nghệ thuật văn chương điện ảnh thể thao y học tóan học vv... luôn là những chân trời rộng mở. Ở đó luôn đủ chỗ cho những tài năng. Nhưng chúng ta vẫn chỉ khép nép đứng từ xa ngấp nghé nhìn chân trời mà chưa thể đủ sức để mở cánh cửa bước vào đừng nói chi bay.  Nhưng ai ngăn cấm chúng ta giấc mơ được bay nơi những chân trời ấy? Bao lâu nữa chân trời đó sẽ xuất hiện những người Việt Nam tung đôi cánh tài trí của mình? Ngay bây giờ tôi khóc vì giấc mơ đó tôi cũng khóc vì giấc mơ đó chưa thể chạm đến và khi chân trời nào đó có người bay tôi sẽ òa vỡ nức nỡ khóc vì sung sướng!

Lại khóc những người bay không có chân trời

Khi đọc câu thơ này trong tâm trí tôi luôn hiện ra những hoàn cảnh mà cái nghèo đói là sợi dây oan nghiệt trói chặt đôi cánh của nhiều cuộc đời. Nhiều người còn nhớ câu chuyện của em học sinh Nguyễn Thanh Lập ở Quảng Trị. Năm 2002 Nguyễn Thanh Lập trúng tuyển khoa Kinh tế xây dựng- Trường Đại học Bách khoa - Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng gia cảnh nghèo túng đã không cho phép em đến trường. Tờ giấy báo nhập học đành xếp trong học bàn em theo đoàn người đi phụ thợ nề với những giọt nước mắt chảy ngược vào trong. Năm 2003 Nguyễn Thanh Lập lại thi. Lần này em ở tốp điểm từ 24 đến 30 điểm của khoa Công Nghệ Thông Tin- Trường Đại học Bách Khoa. Nhưng cả hai lần em đều không thể nhập học.

Đó là một trong vô vàn những người có thể bay mà không thể có chân trời

Đẹp làm sao những giọt nước mắt nhỏ xúông vì khát vọng vì những ước mơ và vì những số phận.

Nếu không có khát vọng không cháy bỏng giấc mơ đến các chân trời chúng ta sẽ mòn đi trong các ngõ cụt.

Anh vỗ cánh như thế

 mà bay xa được

 mấy tất đường trường?

Trần Dần

Dẫu bay như thế nào cũng phải bắt từ cách vỗ cánh. Xin nghiêng mình trước nhà thơ Trần Dần.

More...

LỤC BÁT VÀ BÀI THƠ " CHĂN TRÂU ĐỐT LỬA"

By Nguyễn Lâm Cúc

 
LỤC BÁT VÀ BÀI THƠ
"CHĂN TRÂU ĐỐT LỬA"


(Hình lấy từ Internet)

Nguyễn Lâm Cúc


"Chăn trâu đốt lửa  trên đồng

Rạ rơm thì ít gió Đông thì nhiều

Mải mê đuổi một con  diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành than"

Đồng Đức Bốn.


Nhiều người đánh giá nhà thơ Đồng Đức Bốn trụ vững trong lòng độc giả bằng những bài thơ Lục bát. Bài "Chăn trâu đốt lửa" trên đây là một ví dụ.
 

Mặc dù ngày nay đọc giả nói chung và đọc giả là khách văn chương đã rất kén chọn đòi hỏi khá gắt gay trong  thưởng thức thơ. Một trong những tiêu chí đưa ra để thưởng thức của phần đông bạn đọc đó là khát khao đổi mới trong cách thể hiện ngôn từ. Chính từ sự đòi hỏi thúc bách đó đã có những cuộc xung phong mang tính thử nghiệm của nhiều cây bút ở nhiều lứa tuổi nhiều lĩnh vực. Và đã có nhiều  tập thơ   bài thơ được xuất bản phổ biến dưới dạng tập sách trên các mặt báo tạp chí. Họ trình làng  những hình thức Thơ mới lạ như viết mỗi câu một chữ hoặc mỗi câu thơ dài bằng cả một trang văn lại có những câu thơ toàn chữ số zít dzắt. Về ngôn từ nhiều bài thơ  sử dụng những tiếng những từ bạo liệt thô tục phóng khoáng phóng đãng hết sức hồn nhiên. Kết quả không ít bút mực xôn xao bàn tán trong những năm  gần đây theo cả hai chiều chê bai cũng lắm tán thưởng cũng nhiều.

Nhưng sau những xao động lăn tăn từ những viên sỏi ném xuống thì mặt hồ thơ ca trên cả nước  lại yên lặng đến bồn chồn. Những cái chưa thật sự là chân giá trị đã sớm mai một.

 Cùng thời gian đó nhà thơ Đồng Đức Bốn lại được công nhận với thơ Lục bát một thể thơ bình dị như hình ảnh thiếu nữ chân quê trong chiếc áo bà ba. Một hình ảnh quen thuộc lâu đời trong con mắt người Việt Nam. Một trong những bài lục bát làm nên tên tuổi nhà thơ Đồng Đức Bốn và được nhiều đọc giả yêu thơ tán thưởng   bài thơ "Chăn trâu đốt lửa". Bài thơ này ngôn từ hình ảnh như chăn trâu đốt lửa rạ rơm con diều củ khoai...là những từ ngữ thuộc dạng cũ kỷ trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam và kể cả trong văn chương Việt. Nhiều người Việt Nam ở bất cứ tầng lớp nào và ngụ cư ở thành phố hay nông thôn đều hơn một lần nghe hoặc tự mình đọc một vài bài lục bát chí ít thì cũng thuộc những câu này trong cổ văn Truyện Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Nguyễn Du

Hay như câu ca dao:

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Quá quen thụôc! Và chính sự quen thuộc đó đã tạo nên một sự đánh giá của rất nhiều người thể Lục bát là loại thơ dễ làm nhất!

Đồng thời cũng tồn tại một cách đánh giá ngược lại làm được một bài thơ Lục bát hay không đơn giản chút nào vì dễ sa vào vô số những lối mòn và chính sự êm ái của vần điệu như âu/ sầu ôi /thôi của câu sáu câu tám mà đã không ít bài Lục bát ra đời vừa sáo vừa nhạt.

Một khi đã phải li hôn

Còn đây trỉu nặng nỗi buồn tình duyên

 vv và vv

  sự ngộ nhận những câu văn vần và những bài thơ hay là vì cả hai có sự na ná hệt như cái na ná giống tình yêu mà thật ra là không phải tình yêu. Điều khắt nghiệt là chỉ khi trải nghiệm qua chính bản thân chính sự yêu mến như máu thịt mới thấu hiểu đến chân giá trị.

Tình yêu cũng là điều cũ kỷ nhất đối với loài người nhưng lại luôn mới mẻ với mọi thế hệ tương lai.

Cái cũ cái bình dị đằm thắm trong ngôn từ hình ảnh của bài thơ "Chăn trâu đốt lửa" là tình yêu.

Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít gió Đông thì nhiều

Hai câu thơ trên như một lời tâm sự. Khung cảnh trong bài thơ là cánh đồng miền Bắc nơi mà dù vụ gặt vừa mới xong rạ rơm cũng không còn lại bao nhiêu vì súôt cả một vùng đồng bằng dọc theo châu thổ sông Hồng người nông dân quí rạ không khác gì sản phẩm khác. Họ tận thu rơm rạ để làm thức ăn cho trâu bò; để đun nấu để làm vách đất nữa. Vì vậy cánh đồng sau vụ gặt mùa Đông chỉ còn rất nhiều gió và cái lạnh thấu xương.

Chú bé chăn trâu trong bài thơ này không mang hình ảnh của chú bé chăn trâu thổi sáo tiêu dao như tiên đồng mà là chú bé với cuộc mưu sinh lam lũ. Cánh đồng không rơm rạ ít cỏ chú vừa chăn trâu để trâu  không ăn hoa màu mang vạ vào thân vừa làm sao cho trâu được no. Trời lạnh quá chú kiếm rơm rạ đốt lên bếp lửa để sưởi. Nhưng chỉ có cánh đồng mênh mông:

Rạ rơm thì ít gió Đông thì nhiều.

Câu thơ nói hộ tiếng lòng của biết bao người vì người Việt Nam mấy ai không trải qua thời thơ ấu gian nan vất vả như chú bé kia ở một nông thôn nào đó một cánh đồng nào đó một vùng quê nào đó. Hình ảnh trong câu thơ trở nên thân thương vì không ai khác mà đó là hình ảnh của chính mỗi chúng ta với cái thời đã qua.

Còn với những ai chưa từng biết những cánh đồng những lưng vắt vẻo thì bài thơ đã mang họ trở về với hồi ức chìm khuất sâu thẳm tiềm tàng. Trả cho họ sự êm đềm thanh thản. Mà nếu như có dịp thưởng ngoạn họ sẽ bất thốt lên sửng sốt như nữ dịch giả Nguyễn Thị Bích Nga đã reo lên sung sướng khi đi ngang qua những vườn điều những rừng cây trong một chuyến giao lưu đầu xuân mới đây.  Chúng tôi cũng hét lên cánh cò kìa Bích Nga con trâu kìa Bích Nga! Tiếng hét kinh ngạc cứ như vừa phát hiện ra điều gì mới mẻ lắm. Nhưng thật ra đó là tiếng reo vui mừng rỡ khi ta được trở về.

"Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít gió Đông thì nhiều

Mải mê đuổi một cánh diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành than"

Khi trâu đã no khi cỏ đã đầy. Chú bé lao theo cánh diều. Cái cánh diều chính chú đã chặt tre hì hục chẻ chẻ vót vót rồi vọt vào bếp lén mở nắp nồi bốc vụng một nắm cơm đem mớ giấy vở đã ki cóp cắt cắt dán dán thành cánh diều. Bay lên nào diều ơi! Lên nữa cao nữa! Trên kia là cả một bầu trời bao la đầy ước vọng. Chú bé cứ thế chạy theo cánh diều của mình với tất cả đam mê bỏ lại sau lưng mọi nỗi nhọc nhằn  rét buốt để có những giây phút hòan tòan chìm đắm trong hạnh phúc.
 

Chiều ấy ráng chiều nhuộm đỏ chân mây.

"Mải mê đuổi một con diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành than"

Khi chú trở lại bếp rơm rạ đã tàn. Củ khoai vùi trong ấy cũng thành than tự bao giờ!

Nhà thơ Đồng Đức Bốn đã rất tài tình trong việc chộp lấy hình ảnh của buổi chiều cánh đồng rồi với bốn câu lục bát nhà thơ khắc họa nên một bức tranh đồng quê với cái hồn được neo lại trong câu chữ. Tài hoa hơn nữa hình ảnh bếp lửa với củ khoai thành than nằm trong bếp chiều với hoàng hôn lụi tắt. Hai hình ảnh đó đan quyện vào nhau lộng vào nhau mà vẫn là hai hình ảnh riêng biệt và tuyệt đẹp!

Họa sĩ Ba Tỉnh có treo câu blog của mình câu " Tiếng nói cũng có hình như hội họa" điều đó được minh chứng bằng bài thơ của nhà thơ Đồng Đức Bốn một cách hùng hồn. Và tôi nghĩ rằng đọc một bài thơ cũng là một cách chiêm  ngưỡng vẻ đẹp tâm hồn của người viết mà bài thơ chính là bức họa chân dung.

More...

"SÔNG HƯƠNG HÓA RƯỢU"

By Nguyễn Lâm Cúc

 

"SÔNG HƯƠNG HÓA RƯỢU"...



(sông Hương nhìn từ đồi Vọng Cảnh.Ảnh trên mạng Internet)

Bàn hươu tán vượn Nguyễn Lâm Cúc

Nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một trong những Nghệ sĩ đa tài. Ông thành công ở cả ba lĩnh vực thơ nhạc và họa. Về nhạc ca khúc "Khúc hát sông quê" phổ thơ của người bạn chí thiết Lê Huy Mậu là một trong những bài hát được công chúng yêu mến rộng rãi. 

      Nhà văn Nguyễn Quang Lập viết về nhà thơ người bạn Nguyễn Trọng Tạo với giọng văn thân mật: " Năm 1980...bài thơ Tản mạn thời tôi sống được cả nước bàn tán xôn xao đó là bài thơ có cái nhìn mới mẻ và xót xa về đất nước. Nhắc đến văn chương thời kì đổi mới không thể không nhắc đến bài thơ này.  Năm 1987 văn chương nước nhà mới bảo nhau rục rịch đổi mới thế mà từ năm 1981 anh Tạo đã dám  viết những câu thơ bỏng rát nhức buốt như vậy quả là gan trời.

      Anh Tạo đa tài kẹt đường này thì phát đường khác. Thơ đang kẹt thì phát nhạc bài Làng quan họ quê tôi thời đó cả nước hát râm ran nổi tiếng đến nỗi hễ nhắc đến Nguyễn Trọng Tạo thì lập tức có người hát được đôi câu bài hát ấy ngay".

        Trong cái gia tài sáng tác đồ sộ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo bên cạnh những tác phẩm dài hơi có kích thước và giá trị nghệ thuật như nhau thì vẫn có những tác phẩm mang hình dạng cô đặc hệt như tác giả đã rút hết tấm lòng cái tình người viết rồi như chim Yến từ máu thịt làm nên sự kết tinh vô giá đó là bài thơ hai câu:

Sông Hương hóa rượu ta đến uống

Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say.

Có giai thoại kể rằng trong một lần thù tặc với bạn văn chương nhà thơ đã cao hứng đọc lên hai câu thơ trên. Ngay sau khi ra đời bài thơ đi vào lòng bè bạn được truyền từ người này sang người khác và cứ thế dòng sông Hương này của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo chảy rào rạt ngây ngất trong lòng những ai có dịp biết đến bài thơ.

Người Việt Nam ai cũng biết đến Huế bằng hình thức này hay hình thức khác. Nhiều người say những điệu hát Nam ai Nam bằng.  Và ao ước một lần được đặt chân đến Cố đô soi mình trên dòng sông Hương đã đi vào lịch sử đi vào văn chương nghệ thuật Việt Nam với bóng dáng thiếu nữ đài các trang nhã và yểu điệu nhất qua mọi thời đại.

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã tắm linh hồn trong dòng sông Hương thơm ngát. Và sông Hương dưới cái nhìn bay bổng của  nhà thơ đã được thiên nhiên được hồn thiêng đất Việt chưng cất "hóa rượu". Rượu này linh khí  núi sông chắt lọc từ tinh túy của trời đất mà thành.
 

"Sông Hương hóa rượu ta đến uống"

Dòng rượu sông núi chảy tràn trong huyết quản. Liệu có cơn say nào ngây ngất hơn cơn say này nữa không? Trong kho tàng ca dao có hai câu:

Chẳng chè chẳng chén sao say

Chẳng thương chẳng nhớ sao hay đi tìm?

Cái say trong câu ca dao là chàng say nàng cái say tình say nghĩa. Cái say trong câu thơ Nguyễn Trọng Tạo là say non nước cái say của bậc trượng phu với non sông. Và cái say này không phải say không biết gì mà cái say của người tỉnh.

"Sông Hương hóa rượu ta đến uống

Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say"

Uống  hồn thiêng sông núi. Càng uống càng tỉnh. Tỉnh để thấu súôt để bồi đắp để hy vọng để ngân lên rung cảm để nung nấu thôi thúc tự đòi hỏi bản thân làm một điều gì đó cho xứng với non sông.

  Đất Huế một nơi trải qua bao biến cố lịch sử. Những đền đài còn lại là những chứng tích ở một phương diện nào đó đền đài kia từng nghiêng ngả. Đó là nhận định của một người tĩnh nhìn về thời cuộc nhìn về lịch sử một vùng đất qua một bài thơ hai câu.

"Sông Hương hóa rượu" còn được chưng cất bởi cái tình của người làm thơ vì vậy người đọc sẽ chuếnh choáng say bởi cái ma mị của nó. Bởi đằng sau ngôn ngữ không chỉ ẩn hiện hình ảnh non sông còn mang cả bóng dáng của giai nhân và nam tử hán những con người ngạo nghễ thời đại nào cũng có thời đại nào cũng lưu dấu tích thời đại nào cũng say non xanh nước biếc.

Có thể nói "Sông Hương hóa rượu"  xoay chiều nào cũng lấp lánh. Góc độ nào cũng chiếu sáng lung linh.

        Rất nhiều đọc giả và cả giới văn chương đều nhìn nhận Thơ là đỉnh cao của ngôn ngữ của tư duy hình tượng sự thăng hoa về tưởng tượng và biểu cảm. Nói cách khác người làm thơ là những lao động cực nhọc bòn đãi từ bùn đất ngôn từ để chắt lọc ra những viên kim cương. Viết được một bài thơ hay đã khó. Viết một bài thơ hay chỉ vẻn vọn hai câu càng khó. Nhất là trong thời đại ngày nay khi người ta phải chạy đua với thời gian để kịp chiếm lĩnh kiến thức kịp lao động để thành đạt thì việc thưởng thức văn chương nghệ thuật lại càng cần sự tinh túy cô đọng và giá trị cao hơn bao giờ hết.

        Chúng ta biết rằng không có gạo có muối thì mới chết. Chứ không thơ không hoa hồng chẳng ai chết cả mà người ta vẫn sinh con đẻ cái. Nhưng đó là cái nhìn hạn hẹp. Chẳng phải ở một góc độ nào đó lẽ sống của con người chính là Thơ và Hoa hồng. Lịch sử loài người cũng đã chứng minh biết bao dân tộc vì Thơ và Hoa hồng hay nói cách khác vì cái Đẹp mà chiến đấu không khoan nhượng. Một dân tộc một đất nước không có kho tàng văn hóa thì dân tộc đó thật sự nghèo nàn và báo hiệu sự suy vong! Mà thơ văn chính là báu vật trong kho tàng văn hóa của một đất nước.

        Xin mượn câu nói nổi tiếng của nhà văn Bra- Xin Paulo Coelho để kết thúc bài viết này: "Văn chương là những hạt muối giữ cho cuộc đời này khỏi những ươn thiu". Kết tinh thành đá quí đã khó nhưng làm được hạt muối mặn càng quí lắm thay!

More...

VUI MỪNG VÌ...

By Nguyễn Lâm Cúc

 

MỪNG VUI VÌ...



 Nguyễn Lâm Cúc

      Tin con trai thầy S bị tai nạn giao thông hiện lên màn hình và tai nghe của nhiều máy di động dựng người ta dậy vào lúc nữa đêm rồi bàng hoàng thương xót và lo lắng vì biết bao người quí cái tình cái nghĩa sự ân cần của thầy S.

Thông tin có lúc cụ thể có lúc chập chờn nhưng đã có nhiều cái đầu nhè nhẹ lắc nhiều ánh mắt nói lên cái điều không muốn nói. Một vài người kể cháu bị thương rất nặng phần đầu và mặt có nhiều vết thương. Chân thì gãy. Bất tĩnh ngay tại chỗ! Bây giờ đã hơn một ngày mà cháu vẫn chưa tĩnh lại.

Nhiều người chạy lên SàiGòn vào bệnh viện Chợ Rẫy để thăm. Nhiều ngày trôi qua trong lo âu thắt thõm. Có người sau khi đi thăm trở về hoang mang họ nói thầy S có lẽ sốc quá nên có những biểu hiện không bình thường thầy cứ cười nói hơ hơ suốt!

Hai mươi ngày sau chúng tôi gặp nhau cùng đi uống càphê. Tôi hỏi thăm cháu  đỡ nhiều chưa Thầy? Đỡ nhiều rồi. Cái chân gãy bó bột nên đi lại bất tiện một chút. Còn những vết khâu trên mặt trên đầu đã cắt chỉ. Không có vấn đề gì. Hơ hơ

Thầy thiệt là biết đùa. Tôi ái ngại.  Tai nạn như thế... mà Thầy nói không có gì?Chịu Thầy luôn.

Vẫn chưa phải là điều xấu nhất mà Chị. Nói thiệt với Chị nghe khi tôi nghe tin cháu bị tai nạn và nghe người kể tình trạng của cháu tôi xác định là đi đem xác cháu về chôn. Chị không biết lúc đó tôi tuyệt vọng đến như thế nào đâu! Tôi chỉ muốn gào thét múôn lật tung quả đất này lên để tìm lại con tôi. Nhưng đến nơi thấy cháu vẫn còn thở sau đó biết cháu không chết nghĩa là còn may mắn lắm! Vẫn còn thì đương nhiên là mừng vui rồi! Ai nói sao mặc lòng với tôi chưa đến tận cùng thảm cảnh thì vẫn cứ nên vui mừng.

Thầy S đã tìm mọi cách để mời những  bác sĩ tài giỏi nhất đến chữa trị cho con. Cùng lúc đó thầy vừa lo việc của trường vừa xem xét hối thúc để căn nhà đang làm dở dang tại SàiGòn hoàn thành nhanh hơn dự định. Khi con trai thầy xuất viện thầy đã đem cháu về nằm trong căn nhà tinh tươm mà trước đó mọi việc đã chỉnh chu. Thầy S biết một bầu không khí thoải mái thương yêu là điều cần thiết  cho người vừa từ cửa chết trở về.

Sự lạc quan của thầy còn là chỗ dựa vững vàng để mẹ cháu và em trai vượt qua cơn sốc do tại nạn mang đến một cách dễ dàng. Họ làm những việc cần làm trong trạng thái vui vẻ trong ý thức hãy nên vui mừng vì đây chưa phải là điều tệ hại nhất!

Không ai có thể gánh thay cái gánh đời của bạn. Mà đã gọi là gánh thì đương nhiên là gánh nặng... Không thay đổi được hoàn cảnh như hoàn cảnh của tôi chẳng hạn. Tôi đâu thể thay đổi được tai nạn đã xảy ra? Và càng không muốn nó xảy ra. Vậy thì hãy gánh cái gánh đó trong vui vẻ thay cho sự buồn rầu. Bạn làm điều đó là để thương chính bản thân mình. Thầy S nói vậy đó.

More...

NHỮNG ĐỒNG NĂM CHỤC TREO LỦNG LẲNG

By Nguyễn Lâm Cúc

 

NHỮNG TỜ NĂM MƯƠI ĐỒNG TREO LỦNG LẲNG




Tản văn Nguyễn Lâm Cúc

Nhưng đó không phải là tiền lì xì.

Tí Chuột sanh năm Heo.

Đến bây giờ tôi vẫn còn thấy rùng mình bởi vì ngày ấy tôi từng có quyết định bỏ đi hoài thai Tí Chuột vì nhiều lẽ...

 Có những việc cần làm phải làm. Nhưng nếu tránh được cho người phụ nữ những quyết định đau lòng về thai sản là hành động cao thượng và nhân ái của những bậc trượng phu nam tử.  Bất kỳ tác động nào liên quan đến sanh nở người phụ nữ đều chịu nhiều đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Nỗi đau thể xác có thể qua đi có thể quên lãng. Như việc banh da xẻ thịt để sanh một đứa con đau đớn không tả nỗi. Nhưng người mẹ nào rồi cũng quên việc đau đớn ấy như nó chưa từng xảy ra chỉ còn lại đứa con là hạnh phúc ngọt ngào. Nhưng những nỗi đau về tinh thần lại vĩnh viễn đóng đinh giữa trái tim.

Chuột là một đứa trẻ nhạy cảm.

Khi Chuột còn bé lúc nào cũng áo thun bỏ trong quần thun. Tối lại trước khi đi ngủ Chuột ngồi trên gường bỏ áo vào quần cẩn thận rồi mới chịu nằm xuống ngủ.
 

Chuột rất nhút nhát đã vậy còn mê chuyện ma. Sơn thì láu cá luôn tìm mọi cách để chọc ghẹo em. Tôi giải thích mắng mỏ thậm chí dọa đánh đòn trò nhát ma của Sơn. Nhưng hễ vắng tôi   là Sơn lại làm Chuột sợ. Chuột đã nhiều phen sợ tím cả người. Chuột sợ bóng đêm sợ cả những vật có hình dáng không quen thuộc. Một lần một chiếc lá khô cong queo mang hình dáng một con sâu do tôi cố tình đem bỏ vào gường Chuột nhìn thấy  kêu thét lên! Tôi cầm chiếc lá vạch từng chi tiết nói chiếc lá này không gây ngứa không có gai chích đau không biết cắn đâu có gì nguy hiểm mà sợ ha Chuột? Có má bên cạnh nè Chuột thử cầm chiếc lá lên xem nó chẳng đau chút nào đâu. Chuột lắc đầu nguây nguẩy đôi mắt Chuột nhìn tôi cầu khẩn van xin  đem chiếc lá khô rời xa khỏi phòng. Kiểu này mai kia lớn lên Chuột dễ trở thành người ươn hèn lắm.

Nhà tôi có nuôi một con chó tên nó là Kinô. Con Kinô cắn nát chiếc máy bay chạy pin mà Chụôt sẳn sàng đổi hộp bánh sôcôla 12 chiếc để có được. Chụôt nổi khùng tung ngay nắm đấm vào Kinô nhưng khi nắm đấm cách đầu Kinô chừng một phân thì khựng lại y hệt như có một bức màn vô hình ngăn chặn. Chụôt vẫn chưa thôi bặm môi trợn mắt thực hiện nắm đấm lần thứ hai. Lần này nắm đấm dứ dứ ngay mũi Kinô rồi biến thành một cái cọ mũi nhè nhẹ trong cằn nhằn. Tao tha cho mày đấy. Lần sau  không tha đâu. Kinô gừ gừ ra chiều khoái trá.

Kinô bệnh gì không biết đã chích thuốc uống thuốc nhưng con chó càng suy kiệt. Tôi bắt gặp Chụôt dùng khăn lau đôi mắt đầy nhử gèn khi con chó nằm bẹp bên thành giếng. Chuột nói mày cố lên  khỏe rồi  mày muốn cắn cái gì tao cũng cho. Nhưng Kinô đã không thể khỏe trở lại.

Chuột chỉ nhút nhát thôi nhưng siêng năng lắm. Việc gì cũng gắng sức đến cùng.

Khi Chuột vào lớp một nhà tôi có nuôi bầy vịt khoảng năm bảy chục con. Vịt ăn khủng khiếp. Thức ăn cho vịt là nỗi lo hàng ngày của mấy mẹ con. Khi vịt còn nhỏ chúng tôi thường tranh thủ đi kiếm giun. Giun là thức ăn khiến lũ vịt con chóng lớn.

Cách nhà tôi khoảng ba trăm mét là những vườn cao su bạt ngàn. Mùa mưa bên dưới lớp đất mùn và lá mục giun ở hàng đống. Tôi đem Chuột đi bắt giun. Dùng một cái que cời đống lá mục với đất mùn do nước mưa chảy đọng từng đám nhỏ cận gốc su chúng tôi tha hồ nhặt giun.

Chuột xách một thùng nhựa nhỏ. Tôi xách một thùng nhựa nhỏ hai mẹ con cật lực làm việc. Bầy muỗi bám theo chúng tôi như bầy ong. Mặc kệ chúng. Vì đầu mặt đã được trùm kín bằng khăn chúng tôi chăm chú vào công việc. Chuột làm rất giỏi và hiểu được cần phải cố gắng để sớm trở về cho mẹ kịp đến công sở. Một lần chúng tôi đang mệt mài làm việc dưới những hạt mưa nhỏ lạnh lẽo rớt vào sớm mai. Bất chợt Chuột thét kinh hoàng! Tiếng thét của Chuột khiến bầy chim đang đậu trong đám lá su bay táo tác. Tôi lao về phía con. Chụôt run rẩy mặt tái mét đôi mắt bám chặt vào một con Rết đỏ lòm to bằng ngón chân dài cả tấc đang khoe hai hàng chân cả trăm chiếc giữa đám lá mục. Bằng một chiếc dép tôi nện con Rết một phát rồi ôm chặt Chuột vào lòng. Siết con trong vòng tay tôi không ngớt an ủi. Má bên cạnh con rồi nè. Hông sao đâu. Nó chưa cắn con đúng không? Chuột gật đầu. Tốt rồi. Đừng sợ nữa ha. Tôi ôm ghì con đong đưa đong đưa cho đến khi cảm thấy Chụôt đã hòan tòan bình tỉnh mới khẽ khàng nói con về nghỉ đi. Chụôt lắc đầu nó lảo đảo đứng lên quơ tay kiếm chiếc que cời đã quẳng đi trước đó và dũng cảm nói mình bắt giun tiếp đi má. Chuột hiểu rằng hôm nay chưa có thức ăn cho vịt.

Hai mẹ con tiếp tục công việc. Nhưng tôi không rời con cả hai việc bên nhau. Tôi vừa làm vừa kể chuyện luyên thuyên để  để làm Chuột quên nỗi khiếp sợ vừa trải qua.

Mùa xuân có rất nhiều hoa dại nở trên rẫy. Cũng là mùa của hoa Điều. Hương bay lượn khắp nơi. Không gian dìu dặt những mùi thơm ngây ngất. Sau tết những vườn Điều rộ chín. Lúc này đứng từ xa nhìn thấy trên vòm những vòm lá xanh điểm xuyết những cánh hoa vàng đỏ rực rở cả một vùng. Thực ra đó chính là quả Điều đang chín.

 Những ngọn gió Nam hào phóng rượt đuổi nhau trên những tầng không khi đi qua vườn cây những ngọn gió tinh nghịch thi nhau vặt quả chín ném đầy mặt đất.

Đó là những ngày tôi đi rẫy từ khi trời chưa sáng. Tờ mờ đã lọ mọ lượm quả. Cả mấy đứa nhỏ đều lên rẫy phụ việc. Đứa thì rung cây cho quả rụng như mưa đứa thì lượm xách và vặt hạt. Công việc nhiều chúng tôi bận đến đổi ăn cơm ngay tại chỗ làm trong mươi phút. Ngày nào cũng trở về khi không còn nhìn thấy lối đi. Chuột cũng phải tham gia mỗi ngày một buổi một buổi còn lại đi học. Chuột lượm quả. Người Chuột lem luốc đầy mủ quả và đất bụi. Đang bò trên đất tay thăn thoắt lượm nhặt bỗng Chuột kéo áo tôi nói má đi cùng con đi con muốn đia ịa...Tôi phì cười. Đem con ra bãi cỏ trống. Trời ạ sợ ma chi mà sợ lạ lùng!
 

Hạt Điều là thứ nông sản dễ thu hoạch nhất. Hái quả vặt ra hạt là bán ngay tại rẫy luôn. Những năm ấy hạt Điều được giá có lúc mỗi ký bán được mười lăm ngàn đồng. Cứ vặt khoảng một trăm hai chục đến một trăm sáu chục hạt thì được một ký. Như vậy mỗi hạt Điều trị giá tương đương năm mươi đồng. Nhìn kìa! Khắp vườn treo lủng lẳng vàng rực đỏ rực những tờ năm mươi đồng.

Mùa này mọi người đều sung túc quán sá đông người chợ búa đắt hàng.

Nhưng những chủ vườn vừa thu hoạch vừa lo lắng vì kẻ trộm cũng nhiều và đủ mọi thành phần kể cả những người bạn láng giềng cũng có thể tiện tay thu hoạch dùm bạn mà không cần được cho phép.

Chúng tôi có một ngày khó khăn. Hôm ấy Vĩnh Nguyên thi học kỳ Sơn kiểm tra một tiết tôi phải dự một cuộc họp quan trọng. Bỏ trống rẫy là coi như để người ta thu hoạch dùm một cách không thương tiếc. Người ta chắc chắn sẽ vừa trộm vừa phá hại quả non vì vội vàng. Bàn bạc mãi mà vẫn không có giải pháp nào ổn Chuột ngồi yên lắng nghe và cứng cỏi nói con đi rẫy một mình!

Thấy Chuột quyết tâm nhưng mấy mẹ con đều bất an vì biết Chuột sợ ma sợ sâu sợ cả những gì Chuột tưởng tượng ra lẽ nào tôi để con phải chịu đựng nỗi khiếp sợ ấy đó là chưa tính sợ trộm là nỗi sợ có thật. Nhưng hết cách tôi đành chở Chuột lên rẫy dặn dò con những điều cần thiết rồi nhắm mắt bỏ con lại mà quay lưng vì công việc. Có thể nói đó là những phút giây khủng khiếp nhất của tôi khi để một đứa con bé nhỏ mới bảy tuổi đối mặt với tất thảy những điều nó sợ hãi một mình.

Tôi ra khỏi rẫy chừng 15 phút thì gặp Sơn. Sơn nói thiệt to má ơi cô giáo con bệnh cả lớp được nghỉ hôm nay. Trời may mắn làm sao! Cảm ơn Trời đã cho cô giáo Sơn bệnh. Tôi ngừng xe mẹ cảm ơn con rất nhiều Sơn à. Con chạy mau vào rẫy với em đi.

Sau việc ấy Sơn không còn nhát ma Chuột nữa. Khi không có Chuột Sơn nói con khâm phục Chuột lắm. Chuột thật dũng cảm!

Tôi cũng khâm phục Chuột bé nhỏ của tôi. Chuột đã vượt qua chính nỗi sợ của mình. Chuột dám làm tất cả vì thương yêu!

More...

HƯƠNG ĐỒNG NỘI

By Nguyễn Lâm Cúc

 
HƯƠNG ĐỒNG NỘI


( Kính chúc quí anh chị và bạn hữu năm mới hạnh phúc)


Ghi chép Nguyễn Lâm Cúc

Khi có dịp tụ họp nhau ở thành phố lớn mọi người thường nghĩ đến các quán ăn đặc sản vừa  đãi nhau hương vị đậm đà của các món ăn lại được ngồi trong không khí thân thiện nhẹ nhàng. Từ món ăn đến khung cảnh gợi nhớ về một miền quê một vùng nào đó vẫn đằm sâu trong ký ức của mỗi người.

 Trên bàn ăn sang trọng người ta mang lên một đĩa ngọn khoai lang luộc và một chén mắm nêm.Trời ạ! Cái đĩa rau xanh nuột mềm óng ấy chỉ có khoảng mươi lăm cọng. Những đôi đủa điệu đàng khua khẽ nhón lấy một cọng rau chấm chút xiu vào chén mắm vừa thơm vừa cay. Ưm! Ai nấy đều khen lấy khen để cái vị đặc trưng của mắm đậm đà hòa quyện cùng vị ngọt mềm có chen lẫn một chút chan chát của rau. Thế mà lúc ở nhà mẹ ngày nào cũng ngọn lang luộc thì dẫy nẩy lên con ứ! Đến khi tính tiền nhòm vào tờ hóa đơn tôi hoa cả mắt năm chục ngàn đồng một đĩa ngọn lang! Ba mà còn sống thế nào cũng quẩy gánh ngọn lang lội dô Sài Gòn bán. Đừng Ba à. Ngoài chợ trên vỉa hè vẫn rẻ như bèo. Chỉ là vàng ở cái nơi Ba đủ sức mần thượng đế thôi.

          Có lần tôi gặp trên bàn ăn  những bé Rô nhi đồng chỉ mới bằng hạt bưởi còn nguyên cả vi vẩy nằm vàng xuộm trên chiếc đĩa men xanh. Con Rô đến nơi này khóac chiếc áo " Rô chiên dòn" coi bộ rất được lòng khách. Và cứ thế nào ốc Bươu Ôc Vặn nào Ếch Oàn Chạch Lấu...những bè bạn ngày thơ ấu bây giờ chen nhau làm "người sang trọng" tất tần tật.

Kể cũng vui. Dẫu sao thì cũng có ngày loài " Loài Sên Ốc man rợ" được vinh dự bước vào lầu son gác tía.

Nhưng cũng có chỗ đáng tiếc vì có những món ăn thật sự là "Sơn hào Hải vị" thì tôi chưa từng gặp trong những nhà hàng và cũng chưa từng nghe bạn bè nhắc đến trong đó có món nấm Mối đã giới thiệu với bạn đọc. Món ăn sau đây tôi nghĩ rằng nhiều bạn cũng chưa từng biết đến.

          Mùa Xuân ngư dân vùng sông nước La Ngà quê tôi thường đánh bắt được những con Cá Chép có lẽ đã vượt Vũ Môn rồi chán cảnh không vui không buồn của thế giới Thiên Thượng mà lao trở lại làm loài cá sống dai trên dòng sông đẹp như tranh vẽ. Những con cá Chép này có lẽ từ lâu đã trở thành cụ kỵ mấy đời của loài Chép. Chúng to như một chiếc đĩa cực lớn vàng ươm. Những con Chép cái mang bọc trứng nặng cả ký.

Thịt cá Chép to đã ngon nhưng ngon nhất bổ dưỡng nhất vẫn là trứng cá Chép.

          Với nửa ký trứng cá Chép mang hấp với hành hay sốt Cà chua. Dọn ra mâm kèm với ít ngò Rí kẹp cùng với bánh tráng mè đen. Cái vị bùi bùi thơm thơm không béo không ngấy của trứng đi kèm với mùi thơm và dòn tan của bánh tráng mè khiến bạn ăn đến no mà vẫn thòm thèm...

Bạn đã nếm món trứng cá Chép hay cá trứng Éc trên sông bao giờ chưa? Trời. Thật bò thịt gà có nghĩa lý gì khi đem so với món trứng cá kho nước cốt dừa. Chúc các bạn ngon miệng với những bữa cỗ tết Kỷ Sửu.

More...

NHỮNG ÁNG VĂN THÚ VỊ NHẤT TRONG NĂM 2008

By Nguyễn Lâm Cúc

( Nhờ mạng Internet mà người đọc được tiếp xúc ngay với những truyện ngắn những tản văn những bài thơ hay và còn được trao đổi cùng tác giả. Đó là một cái lợi to lớn của thời đại mang đến cho những người yêu thích văn chương. Dưới đây là trích đoạn một một ký sự của nhà văn Nguyễn Quang Lập. Một trong những áng văn mà NLC đọc thích thú nhất trong năm 2008. NLC xin giới thiệu trích đoạn và cảm nhận NLC đã viết cho Chuyện đời lắm nẻo)

Chuyện đời lắm nẻo 2

333 magnify

Minh hoạ Đỗ Đức


Ký sự vỉa hè-Nguyễn Quang Lập


Ông biết rồi kẹp cô điếm già suốt đêm ông sáo mũi không ngủ được đi vô đi ra ngồi ban công thổi sáo hết chục bài lại ra vỉa hè thổi thêm chục bài nữa trời vẫn chưa sáng bực mình đá cái ghế hét to anh tôi theo bướm bỏ em rồi. Ông biết rồi nhả vú hất mặt lên nói cả thiên hạ ai không theo bướm mày nói tao nghe.

Ông sáo mũi đứng giữa nhà khóc khóc chán đứng thổi sáo thổi sáo chán thì đá cái ghế cái lại hét to anh tôi theo bướm bỏ em rồi. Ông biết rồi nhả bướm nhổm đít lên nói thằng ngu gì mà hét lên thế vua còn đem đất đổi bướm mình tao à.

Cô điếm già cười rích rích bóp ông biết rồi cái nói nhà mình không ngăn vách cứ thông thống. Ông biết rồi vỗ cô điếm già cái bép cười khé khe khe nói nhà này toàn đui mù ngăn vách làm gì.

Cô điếm già lại cười rích rích bóp ông biết rồi cái nói dưng mà ló cứ đi qua đi lại xí hổ chết. Ông biết rồi vỗ cô điếm già cái bép cười khé khe khe nó sư bố cái này mà biết xấu hổ bọn đui mù sáng mắt hết rồi.

Cô điếm già cười rích rích nói mau ôi mau ông biết rồi cười khé khe khe nói hay nhể hay nhể cô điếm già cười rích nói mau mau ôi mau mau ông biết rồi cười khé khe khe nói hay nhể hay nhể. Ông sáo mũi đứng ban công thổi đau cả mũi trong nhà vẫn chưa xong ông rút sáo thở hồng hộc nói nhà này loạn rồi.

Ông biết rồi đi ra ban công nói mày không ngủ còn đứng đó nói năng bậy bạ. Ông sáo mũi nói anh chị cứ bem bép thế bố ai mà ngủ được. Ông biết rồi nói biết rồi ngày xưa bố mẹ bem bép mày không thắc mắc tao mới bem bép chút xíu mày đã thắc mắc là sao.

Cô điếm già kéo ông biết rồi vào nói quần chúng chuyên đề thắc mắc anh quan tâm làm gì. Ông biết rồi cười khé khe khe nói phải phải nhà này anh tổ trưởng em tổ phó nó quần chúng. Cô điếm già túm tóc ông biết rối dúi mặt ông vài háng cười rích rích nói cái lày tổ trưởng chứ ông biết rồi cười khé khe nói biết rồi phải phải.

Cô điếm già cười rích rích nói mau ôi mau ông biết rồi cười khé khe khe nói hay nhể hay nhể cô điếm già cười rích rích nói mau mau ôi mau mau ông biết rồi cười khé khe khe nói hay nhể hay nhể. Ông sáo mũi đá cái ghế nói tôi ỉa vào ở nhà này nữa tôi đi đây rồi bỏ ra khỏi nhà.

Ông biết rồi nhả vú hất mặt lên nói mày đi đâu. Cô điếm già vít cổ ông biết rồi xuống nói để chú ấy đi chú ấy có tự do thì tụi mình mới tự do bem bép chứ ông biết rồi cười khé khe khe nói biết rồi phải phải.

Cô điếm già cười rích rích hất lên nói tự do lày từ do lày ối mau mau. Ông biết rồi cười khé khe khe nói biết rồi biết rồi tự do tự do hay nhể hay nhể.

Được ba ngày tiền hết gạo hết. Ông biết rồi vuốt vuốt cô điếm già nói anh trông nhà quét nhà dọn nhà chùi nhà bảo vệ nhà cửa em chỉ mỗi việc ra phố kiếm tiền thôi quán triệt chưa. Cô điếm già nói lày đừng có phát ngôn sai quan điểm ông biết rồi nói biết rồi nhưng sao cô điếm già nói đó là việc đàn bà ai lại để đàn ông gánh vác.

Ông biết rồi nói biết rồi nhưng ai đi kiếm tiền đây cô điếm già nói đàn ông không kiếm được tiền ai kiếm. Ông biết rồi nói biết rồi nhưng anh quen chỉ đạo chú em kiếm tiền thôi cô điếm già nói thế thì phải đi tìm chú ấy về.

Ông biết rồi vỗ cô điếm già cái bép cười khé khe khe nói biết rồi em kiến nghị cực hay em ra ngay phố kiếm chú ấy về. Cô điếm già nói phố lào cả trăm ngàn phố em biết phố lào ra phố lào. Ông biết rồi nói biết rồi anh chỉ đề ra phương hướng thế thôi phố nào thì em phải linh động sáng tạo chứ.

Cô điếm già tức kéo tai ông biết rồi nói tôi có hai mồm mồm lào cũng thông suốt cả mà lói không lổi ông đi cùng nhau ra phố. Họ đi ra phố tìm một ngày ròng rã không thấy đói không tiền họ đóng vai con gái dắt bố mù đi ăn xin.

Ông biết rồi vịn vai cô điếm già hát những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt... mấy ngàn rồi. Cô điếm già hát một chiều hành quân được tin em gái mất chiếc thuyền như vỡ đôi...hai ngàn. Ông biết rồi hát phút cuối không được nghe nhau nói... mẹ kiếm tiền mà khó nhỉ. Cô điếm già hát không nhìn được một lần dù một lần đơn sơ... lói ngu tiền kiếm dễ tôi lấy ông à...

Họ tính choảng nhau nhưng đói quá không choảng nhau được ngồi tựa lưng nhau thở vào thở ra. Ông biết rồi nói may nhờ đói kém mà vợ chồng mình đoàn kết rồi ôm mặt khóc hu hu nói phen này anh phải hy sinh nửa cái bướm cho chú em rồi. Vừa lúc họ nghe tiếng sáo ông sáo mũi lập tức họ mò đến liền.

Cô điếm già dập đầu nói chú về với chúng tôi từ nay chúng tôi chủ trương miếng ngon chia đôi sách hay chung đọc. Ông biết rồi dập đầu nói em về với anh từ nay anh chị chủ trương không bem bép. Ông sáo mũi nói có chắc không bem bép nữa không cả hai dập đầu nói không không kiên quyết không bem bép.

Họ làm cuộc rượu đoàn viên. Ông biết rồi tu cạn cốc vỗ vai ông sáo mũi nói từ nay anh hy sinh chân tổ trưởng cho chú mày ông sáo mũi nói thèm vào. Cô điếm già nói để tôi nhường chân tổ phó cho chú ông sáo mũi nói thèm vào. Cô điếm già cầm tay ông biết rồi vỗ háng cái bép nói cái này tổ trưởng quán triệt không. Ông biết rồi nói biết rồi đành quán triệt chứ sao. Cô điếm già cầm tay ông sáo mũi vỗ háng cái bép nói cái này tổ trưởng quán triệt không.Ông sáo mũi nói thế có loạn luân không. Ông biết rồi nói biết rồi loạn nước còn chả lo loạn luân là cái đinh. Ông sáo mũi gật đầu lia lịa nói thế thì o ke o ke quán triệt quán triệt.

( còn nữa he he)




Cảm nhận viết cho Ký sự vỉa hè 1
Kha Kha kha...
NLC tin chắc bạn đọc khi đọc Entry này của bọ Lập sẽ rú lên cừơi với những tình tiết mà Bọ cứ tưng tửng kể trong truyện. Hihi. Mù và đui cãi nhau chí chóe về những điều mình không hề biết chỉ hóng hớt nghe câu được câu chăng. Đã vậy đui còn chỉ đạo mù mới ác! Mà thằng đui thì sao rất hãnh tiến cục tự ái tổ bà chảng lúc nào cũng căng phồng như một cái bong bóng chờ nổ banh. Một bước đi thì ba bước gậy lò dò thế mà người ta chưa kịp mở miệng giúp đỡ đã cả vú lấp miệng em! Biết rồi. Biết túôt! Mà đâu chỉ có vậy không biết còn lười nhác miệng leo lẻo kể công: " Tau chùi nhà quét nhà lau nhà giữ nhà..." Vui tợn!
Người Việt Nam mình rất "hồn nhiên" trong những cái cười. Đang đi trợt chân té cái oạch đau tái mặt mà thấy ai ngó cũng cười cái. Trên ti vi có những màn thọc léc rồi cười hề hề qua những màn vui cười rất lãng. Nhưng bọ Lập đã tạo được trong văn của mình cái cười chảy ra nước mắt một cái cười suy ngẫm và giật mình với thời cuộc với người đời và mình. Và đọng lại có lẽ là nỗi niềm đằng sau câu chữ rằng: " thằng Hề cười ai biết bụng Hề có vui?" và Vua Chúa đến Thằng Hề chỉ cách nhau một vai diễn!
Đui Mù và Điếm già. Trời ạ cả 3 mà hợp lại ...Kết cục như thế nào chỉ có Bọ mới biết. Hehe.

 Cảm nhận viết cho Ký sự vỉa hè 2


Tán hình minh họa

Hehe hôm nay trước khi tán Văn của Bọ NLC xin tán tỉn cái ảnh minh họa trước. Ảnh minh họa nội hàm súc tích chỉ cần ghi bên dưới ảnh câu " Đui Mù và Gái điếm " thì bức biếm họa kia đã "lột" sạch nội dung của mấy trang câu chữ. Duy chỉ một điều gái điếm trong chuyện của Bọ là Điếm già cò kè cái ngàn vàng chỉ giá hai chục ngàn không đặng thì bèn biếu không kiếm chén cơm. Cái hình ảnh phốp pháp trên là hình ảnh tương lai khi đã đầy quyền năng và bổng lộc của chức " Tổ chảng" chăng?

Tán cái tù mù.

Trong cảm nhận này NLC chỉ nói với một góc nhìn rất nhỏ thôi đó là nói về nhân vật Đui. Trong nhân gian vẫn tồn tại câu nói này: Cái ngọn cây ấy đui rồi! Đó là chỉ một cành non vì lý do gì đó khô héo. Cái ngọn non khô héo ấy coi như bỏ. Tịt hẳn. Mọi sự đâm chồi nảy lộc phải chờ đợi thế hệ khác. Ở đây còn có ý bao hàm. Thui chôt hết tất thảy. Điều này khác hẳn với Mù mù chỉ có thể là mắt không nhìn thấy thôi.
Đui: thui chột hết mọi thứ ánh sáng. Thế mà lại thích quyền hành. Nắm lấy sự điều hành chỉ đạo. Hệ quả gì? Đói khát loạn là tất yếu!
Trong thế giới của Đui và Mù cùng Đĩ Điếm cái nảy sinh nhanh chóng mạnh mẽ là cơ hội tranh đoạt và chiếm hữu và lãnh cảm. Gái Điếm vừa mới dây dưa một tí với Đui đã nắm ngay lấy cơ hội thỏa hiệp tống khứ Mù ra khỏi ngôi nhà của chính anh ta và vỗ bướm xưng danh " Tổ chảng" . Đui. Dù biết rằng mình được Mù cõng trên lưng mới sống nhưng cái sự quyến rũ của mùi vị hoan lạc đã dứt luôn cả nghĩa lẫn tình với em mình.
Thế nhưng cái mà thế giới này biết và sử dụng thành thạo đó là " lợi dụng lẫn nhau" Vì thế một thỏa hiệp nhanh chóng được xác lập. Ăn chia. Quyền lợi mãi mãi là thứ thống lĩnh con người! Mù kẻ còn có chút ánh sáng lương tri thứ ánh sáng ấy cất tiếng nói yếu ớt " Thế có phạm tội loạn luân không?". Tiếng nói ấy nhanh chóng bị dập tắt bởi Đui.
" Loạn nước còn chả lo loạn luân là cái đinh"
Kinh hoàng thay câu nói trên! Phải chăng đã "loạn đến như thế"? Không thể. Cái loạn nào cũng đem lại bất hạnh. Cái loạn nước đem lại bất hạnh cho một quốc gia. Nhưng đó là loạn nhất thời. Cái loạn luân làm mất nền tảng đạo lý của một dân tộc. Hai cái loạn này quyết không thể xảy ra. Cha ông ta đã có câu " Tề gia mới trị được quốc nhờ đó thiên hạ mới thái bình" Như vậy tề gia chính là đạo đức của con người xin hiểu tề gia là một sự thấu hiểu tạo nên hòa thuận chứ không phải tề gia là sự thống trị áp bức.( đạo đức là cốt lỏi của văn hóa mà văn hóa là cốt lỏi của một tính cách một con người. Con người là thành viên gia đình. Công đồng được tạo nên bởi một tập hợp các gia đình) Hiểu cách khác văn hóa là nền tảng của dân tộc của hệ thống chính trị là sự CHÂN THIỆN MỸ toàn nhân loại hướng đến. Cái loạn này là loạn suy vong! Vì vậy chỉ một kẻ đui kẻ thui chột hòan tòan mới thốt lên câu nói " Loạn nước còn chả lo loạn luân là cái đinh".
Đáng sợ thay thế giới của Đui Mù và Đĩ Điếm.

Thursday November 6 2008 - 05:08am (PST)

More...

CUÔC CHIẾN THẦM LẶNG

By Nguyễn Lâm Cúc

 

CUỘC CHIẾN THẦM LẶNG

( Thương yêu tặng con trai Hoàng Sơn)


"  Hoa xuyên tuyết " một loài hoa bé nhỏ  tinh khiết không hưong thơm thật  giản dị thật mộc mạc...Nhưng hoa có một sức sống thật hùng hậu ...đã vượt  qua lớp tuyết lạnh  nở nụ cười hiền hoà ...bên cạnh  những  đoá hoa hồng co rúm rơi rớt từng cánh từng cánh ...Nguyễn Thị Dị

 Tản văn Nguyễn Lâm Cúc

        

Cuối một ngày làm việc tôi ghé trường anh Đinh Đình Chiến ngồi tán dóc với anh và thầy hiệu phó Nguyễn Viết Sự. Câu chuyện lòng vòng thế nào chẳng biết mà lại sa vào ôn nghèo kể khổ. Chao khổ hè. Anh Chiến cười toét như ông Địa kể: con bé Noel của mình đang đứng cạnh cửa bếp bỗng đổ xuội xuống nền nhà như tàu chuối rủ. Mình với bà Vân tá hỏa. Khiếp! Định bồng con bé đi cấp cứu. Bà hàng xóm nghe chuyện sang dòm dòm con bé rồi nói từ từ đã thầy cô. E cháu đói quá xỉu đó. Nồi cháo gạo trắng trên bếp mới vừa sôi. Bà hàng xóm chạy về nhà lấy ít đường. Chưa có cháo. Vân chắt lấy ít nước gạo vừa sôi quấy với đường bón cho con bé. Nó từ từ hồi tỉnh. Đó là những năm 199... mấy mới đây chứ lâu la gì.

 

 

Tôi cũng đi qua trên con đường đói khổ đó.

 

 

Đồng lương ít ỏi nuôi ba con khôn lớn  với mục tiêu các con phải được học đến nơi đến chốn. Tôi quẳng tất cả mọi thứ phù phiếm xuống đất không văn vọt không thơ thiếc không quần áo mới không nghỉ ngơi và làm bất kỳ việc gì miễn kiếm ra cái ăn cái chi phí cho các con.

 

Rất nhiều nghề đã qua tay tôi từ buôn bán đến chạy phe phẩy kể cả bán vé số dạo hay đi mót. Từ trồng lúa trồng bắp đến đầu tư vườn cao su trồng điều. Rồi nuôi heo nuôi vịt bầy. Ui chao! Búa xua xua nghề phụ vì trong khi đó vẫn làm cán bộ nhà nước. Mỗi ngày làm việc của tôi bắt đầu từ 4 giờ sáng và kết thúc khi nào không thể gượng được nữa thì thôi. Nhưng phần vì không có vốn không có lực; phần thì không đủ thời gian lại không cả kinh nghiệm chuyên môn tôi chỉ có thất bại hoặc chỉ kiếm được từng bữa ăn trong trầy trật gian nan. Nhiều lúc tôi tưởng tôi có thể phát điên vì túng quẫn và những ngõ cụt mà dù không muốn tôi vẫn cứ bước vào. Và tôi cũng nếm đủ mùi vị từ những đòn thất bại vì sự gian xảo của lòng người.

 

 

Rất nhiều đêm thao thức lo sợ các con đói vì miếng ăn hàng ngày không đủ. Tôi ước ao có việc gì đó đến tay để kiếm thêm tiền. Một ngày kia lời khẩn cầu tha thiết của tôi cũng được đền đáp. Một người đàn ông cỡi chiếc xe Honda cà tang ghé lại hỏi nhà tôi có bán chuối Già Hương (một loại chuối vỏ xanh quả dài miền Bắc gọi là chuối tiêu) hay không? Ông ta nói đi từ xa nhìn thấy trong vườn nhà tôi có nhiều cây chuối.

 

 

Thấy ông có vẻ từ xa đến tôi mời ông uống nước và thăm hỏi mới biết ông mua chuối Già Hương để bán lại cho một vựa mua chuối xuất khẩu trên Long Khánh.

 

 

Mua như thế nào hả chú? Mua loại chuối vừa già. Giá một ngàn đồng một ký. Cân cả quầy chuối nhưng cắt bỏ cuống sát nhánh.

 

 

Có bao nhiêu chú mua bấy nhiêu hay sao? Ừ. Chú Bảy gật đầu xác nhận. Ông già hiền lành ấy tên Bảy nhà ở đâu bên miệt Suối Cát. Tôi bèn đề nghị với ông một hợp đồng tôi sẽ mua chuối quanh vùng và bán lại cho ông theo giá ông đã đưa ra.

 

Từ đó ban đêm tôi dành cho việc viết bài để lãnh lương. Một buổi trong ngày dành cho việc đi phỏng vấn thời gian còn lại tôi đi mua chuối. Có những ngày tôi đi xa và đến tối mịt mới về trong mưa với một chiếc xe đạp thồ chất chín mười quầy chuối. Vất vả mệt nhọc được đền bù bằng vài chục ngàn tiền lời mỗi ngày tôi hài lòng và nhẫm tính sau vài tháng có thể mua cho 3 con một đứa một bộ quần áo học sinh mới.

 

 

 

Cứ hai hoặc 3 ngày thì xe tải của bác Bảy ghé ngang qua lấy chuối một lần. Bác Bảy đặt thêm được nhiều điểm mua chuối như tại nhà tôi ở các xã khác nữa. Bác Bảy cũng tế nhị đặt cho tôi năm trăm ngàn tiền cọc. Tôi thầm biết ơn bác Bảy về điều này dữ lắm! Bác đã giải tỏa dùm tôi nỗi lo sợ người mua không đến lấy hàng. Nếu họ mà không lấy thì có nước ăn cho hết!

 

 

 

Hôm nay xe lấy hàng ghé trễ quá đã hơn bảy giờ tối mà vẫn chưa thấy tăm hơi gì. Hồi sáng xe đi ngang qua đã dặn chiều nay lấy chuối rồi. Tôi vì thấy có xe nên bỏ cả cơm trưa chở thêm được một chuyến chuối nữa. Nhìn đống chuối chắc cũng phải đến một tấn là ít. Tôi khấp khởi mừng. Cân hàng xong mai đi chợ mua cho ba con một bữa ăn được chút tội nghiệp ngày nào cũng cơm chan nước mắm chấm rau muống. Mỗi bữa có một gói mì tôm làm canh. Ba đứa lần lượt chia phiên nhau mà ăn. Có lần đến lượt Nhựt ăn mì tôm. Nhựt ăn xong trong tô còn ít nước định đem đổ Sơn đã để ý từ trước ngăn lại đừng đổ để nước Sơn chan cơm.

 

 

Tôi nhìn cảnh ấy lòng đau như cắt. Tôi chạy ra tận dòng suối nhỏ chảy ngang qua vườn ngồi gục đầu xuống tay khóc tấm tức. Tôi giận tôi không giỏi giang để các con được no đủ. Đó cũng là một trong những lần ít ỏi tôi đã khóc.

 

 

 

Buổi tối hôm ấy mãi gần đến 8 giờ xe chở chuối mới đến. Tôi vội vàng đi thắp cây đèn măng sông (hồi ấy chưa có điện) trong vùng ánh đèn tỏa sang tôi thấy hai người đàn ông lạ bước xuống. Bác Bảy đâu hai anh? Chúng tôi thay ông Bảy nhận hàng. Cân ngay chứ trễ lắm rồi. Người đàn ông nhiều tuổi hơn trả lời tôi. Cả hai mặc áo phông tướng mập mập và khoảng dưới 40 tuổi. Họ bước tới chỗ để chuối trong khi tôi đi bưng cân ra. Trời chuối để vầy mà cân ha? Một người hỏi giọng bực bội. Thì hồi nào tới giờ bác Bảy vẫn biểu làm như vầy mà? Tôi ngạc nhiên hỏi lại.

 

 

- Không. Chị phải cắt bỏ nhánh đầu quầy và nhánh cuối quầy vì hai nhánh đó một quá to một quá nhỏ không đúng kích cỡ hàng chúng tôi yêu cầu.

 

 

- Sao kỳ vậy? Tôi phản bác. Bác Bảy vẫn cân hàng của tôi mỗi ngày mà đâu có nói như hai anh bữa nay đâu. Một quầy chuối chỉ có 5 6 nhánh. Cắt bỏ hết hai nhánh là hết một phần ba rồi mới cân thì phải giá khác chứ cân giá một ngàn sao tôi đủ được đừng nói chi lời.

 

 

- Bác Bảy làm sao tôi không biết nhưng chúng tôi lấy hàng thì phải đúng như quy cách tôi vừa nêu ra còn nếu không thì thôi. Người trẻ tuổi nói giọng sừng sộ. Tôi cũng tức giận không kém.

 

 

- Nếu cân như cũ thì tôi sẽ cân còn nếu không thì các anh cứ đi đi. Tôi không trả năm trăm ngàn tiền cọc đâu coi như đó là tiền của tôi vì các anh làm sai chứ tôi đâu làm sai. Còn không thì các anh kêu bác Bảy đến đây nói chuyện.- Thế nhà thế nắm được tiền cọc đã ủng hộ tôi họ với tôi giằng co mãi nhưng cuối cùng tôi cũng phải đồng ý cắt bỏ kế cuối để cân hàng. (đây là nhánh chuối chỉ nhỏ hơn chút ít chứ không phải nhánh út đèo đẹt trong buồng chuối).

 

 

Cân xong hàng thì đã một giờ sáng. Tôi đi nằm với nỗi thất vọng vì chuyện mua bán coi như xong. Chuyến hàng tối nay không lỗ là đã may nhưng còn rất nhiều chuối đã được mua sẵn với các chủ vườn thì chưa biết làm gì.

 

 

Mấy ngày sau tôi loay hoay mãi vẫn không tìm được cách bán số chuối đã lỡ mua. Tôi chạy lên Long Khánh. May quá! Khu buôn bán chuối nằm ngay trong bến xe khách. Tôi tìm đến một chủ vựa trình bày. Họ bằng long lấy hàng. Thỏa thuận giá cả xong tôi xin số điện thoại quay về lòng nhẹ tênh.

 

 

Hôm sau tôi đi từ 4 giờ sáng đến chặt để chở. Quyết định tiết kiệm tôi chỉ nhờ thêm có hai công vận chuyển. Còn chặt vác tại chỗ do tôi làm. Đến 2 giờ chiều cũng xong. Tất cả đã được chất lên một xe tải nhỏ. Xe đến nơi tôi vào chỗ vựa chuối hôm qua và chỉ còn biết uất nghẹn họ nói không mua chuối nữa vì hàng ế! Tôi phân bua cãi cọ tôi nói họ đã lừa tôi vì hôm qua tôi đến đây thỏa thuận số điện thoại họ cho tôi bằng giấy chữ viết còn đây. Bà chủ nhà trả lời tỉnh queo. Sáng nay đáng lẽ cô phải gọi điện cho tôi rồi mới chở hàng lên chứ. Ai bỉu cô không gọi chi. Thôi thương tình cô tôi trả xe hàng của cô giá mỗi ký năm trăm đồng đó là tôi mần phước cứu cô đó.

 

 

Trời. Mua tại chỗ đã tám trăm đồng tiền công chặt tiền xe tải lên đây mà giờ chị trả tui năm trăm một ký chỉ bằng một phần ba giá hôm qua chị nói tui lấy gì mua gạo cho con?

 

 

Mua lạy bán dạ là chuyện đương nhiên. Đó. Chị coi có ai lui tới mua bán gì đâu. Tui trả vậy chị không bán thì đem về chứ ép uổng chị đâu mà khóc lóc rên rỉ. Chị ta nói xong nguẩy đít đi tuốt vào nhà sau. Tôi đứng chỏng chơ ở cửa một lúc rồi quyết định chạy khắp nơi hỏi tiếp thử xem. Nhưng họ đã liến kết cùng nhau tôi hỏi mấy vựa chuối liền kề họ đều nói không mua. Tôi đành quay lại bán hết xe hàng với giá năm trăm.

 

 

Chiếc xe tải tiếp tục đi Sài Gòn. Tôi ra chỗ cây xăng ven quốc lộ một ngồi thẫn thờ đợi xe quay về nhà. Tôi buồn đến tuyệt vọng! Số tiền bán chuối xong trả tiền xe chỉ còn có vài chục ngàn. Tất cả khoản lời của nhiều ngày trước không bù được cái lỗ của ngày hôm ấy.

 

 

Tôi về đến nhà trời đã khuya. Sơn còn thức đợi mẹ thấy tôi Sơn hớn hở nói bán hết chuối rồi ha má? Ừ. Bán hết rồi con à. Má ăn cơm chưa? Má ăn rồi. Ở nhà có chuyện gì không con. Không. Anh Nguyên hôm nay lại đó điểm mười môn toán. À có chuyện nay hay lắm má ơi!

 

 

Gì vậy ha con? Tôi kéo Sơn vào lòng rồi hỏi. Sơn kể hào hứng. Hôm nay có một đôi gà chọi đến đá nhau trong vườn nhà mình tụi con được một bữa coi quá đã. Hai con gà đá đến tận chiều tối luôn. Con thắng bỏ chạy rồi con thua đi hết nổi. Hihi. Tụi con bồng con gà thua để vào chuồng heo đó má.

 

 

Tôi ra chuồng heo thì thấy một con gà cồ thật to mình mẩy thâm bầm đầu bị trầy trụa mắt sưng vù đang đứng gục trên bức tường thấp. Trở vào tôi giục Sơn đi rồi đi tắm rửa qua loa.

 

 

Vào thăm ba đứa trẻ thấy Nhựt rất sạch sẽ Nguyên thì không được như vậy hình như Nguyên tắm mà không cọ chân kỷ lưỡng. Ba con ngủ say. Tôi ém mùng kỹ lưỡng và nhẹ nhàng xuống bếp. Chẳng biết mấy giờ trời hình như đã khuya lắm hay đã chuyển sang ngày mới rồi cũng nên. Không gian tĩnh mịch lạnh lùng. Tôi nhóm bếp lửa bắc một nồi nước sôi. Tôi quyết định làm thịt con gà đang đứng trên chuồng heo. Con gà của ai tôi không biết nhưng chắc không phải của những người ở gần vì quanh đây không có ai nuôi gà đá. Mà đó là một con gà đá thuộc giống gà Nòi. Nhưng nếu của người ở gần cũng không sao tôi bắt gà trong nhà tôi vườn nhà tôi rộng đến năm sào khó ai mà nghe được tiếng động làm thịt một con gà.

 

 

Nước sôi. Tôi đứng lên đi bắt con gà nhưng liệu sáng mai thấy nồi thịt tôi sẽ nói gì cùng ba con đây. Hàng ngày tôi nói các con đừng ăn trộm: Các con có thể làm bất kỳ việc gì quét đường nhặt phân đều là những công việc. Chẳng phải tôi tự hào kể cho các con nghe chuyện thầy Chiến bảo Cúc làm một nhà báo mà chủ nhật thứ bảy vác cuốc đi đào giun ven các trục đường quần áo lấm lem thế không ngại sao? Tôi cười. Nuôi vịt thì phải kiếm cái ăn cho nó. Đào giun chứ em có ăn trộm đâu mà ngại ngùng ha anh? Tôi kể xong mắt ba con rực sáng. Tôi dặn dò hãy làm việc cật lực đừng coi thường những người lao động nhọc nhằn. Và đừng ăn trộm ăn cắp nghe con! Vậy mà tôi đang ăn trộm đây thôi.

 

 

Tôi tắt bếp rót nước vào bình thủy rồi đi nằm. Chỉ còn lại có mấy chục ngàn. Năm hôm nữa có lương nhưng lương chỉ đủ mua gạo. Mấy bữa nay các con húp nước mắm chấm rau đủ loại vậy mà tôi sĩ diện hão   bỏ qua một cơ hội cho các con một bữa ăn ngon bổ dưỡng. Nhìn Sơn mà xem nó xanh mét nhiều người hỏi có phải Sơn đau gan? Tôi biết Sơn và cả Nguyên cả Nhựt đều suy dinh dưỡng đó thôi.

 

Người ta chỉ xấu hổ khi làm việc gì xấu mà bị phát hiện còn lại dưới lớp vỏ bọc ai cũng tốt đẹp như ai. Tôi bắt con gà tại nhà tôi ai mà biết. Còn các con chúng còn nhỏ chắc không hiểu được điều gì sâu xa đâu. Vả lại mình cũng chỉ làm một lần này rồi thôi. Hình ảnh các con sẽ có một ăn ngấu nghiến miệng nhai nhồm nhoàm mỡ gà tứa ướt đẫm những vành môi trẻ thơ và chúng không kịp ngừng nhai để thở thôi thúc tôi.

 

 

Thôi nào danh giá gì chuyện bắt hay không bắt một con gà. Đi làm thịt mà kho một nồi cho con ăn kẻo chúng thèm thuồng tội nghiệp. Quyết định phải làm thịt con gà cho được tôi lại nhóm bếp lại bắc nồi nước rồi kiếm con dao mài cho bén kẻo gây tiếng động to.

 

 

Nhưng... tôi nhớ bữa trước mới phạt Nguyên vì tội hái trộm hạt tiêu của nhà bác Quảng bắn ống thụt. Tôi bắt cả ba anh em sang nhà bác Quảng nhận lỗi đó là một việc quá khó khăn với chúng. Nhưng chúng đã làm.

 

 

Lẽ nào tôi làm ngựơc những điều tôi răn dạy con? Và làm ngay trước mắt chúng?

 

 

Cứ thế tôi nồi nước con gà cây dao và nửa đêm về sáng quần thảo với nhau đến mệt nhoài. Cuối cùng trời cũng đã can thiệp. Ánh sáng bình minh khiến con gà bừng tỉnh cất tiếng gáy và nhảy xuống khỏi chuồng heo lững thững bước đi.

 

 

 

        Thưa các bạn con gà đã ra đi!

More...