TỪ “HIU HIU GIÓ BẤC” ĐẾN “ ĐỒNG CỎ CHÁT” VÀ NHỮNG CON CHỮ “ LẶM LỘI”

By Nguyễn Lâm Cúc

Phần còn lại

Những tác phẩm ký còn lại trong lòng người đọc hôm nay của những tác giả đi trước đa phần là ký về phong cảnh ký về món ăn phố xá ký nhân vật nổi tiếng như các chính khách văn nhân hoặc nghệ sĩ. Riêng mảng ký Thời sự hầu như ít người viết. Ngày nay ký thời sự với những nhân vật phản diện viết được nó người viết phải “ngang tàng” kiểu rễ bần của sông nước Nam Bộ cắm ngược lên trời xanh ngạo nghễ.

Nếu xếp một số  tên tác phẩm của Võ Đắc Danh lại sẽ có những “mật mã” mở xoáy vào nhân tâm như: “ Lấy chồng xa xứ”  thì đến “ Đất và máu”  rồi quay trở lại “Về với đáy sông”  và  “Hàn sĩ lên ngôi vua cá”  “Giữa hai dòng mặn ngọt” để “Chiều chiều ra đứng ngỏ sau” ngóng “ Cổ tích trên đỉnh mồ côi”…Những con chữ lúc này giống như đã được Trì Chú Từ Bi chúng trở nên đạo hạnh hơn trong bàn tay thuần dưỡng của tác giả. Bạn thử mở những “mật chú” kia ra đi vào tác phẩm và sẽ có những thẩm định riêng của mình tôi tin vậy.

 

Nguyễn Ngọc Tư đến với tôi bằng “ Hiu hiu gió bấc”. Cái ngọn gió khiến Hết gạt nước mắt tiễn tốt qua sông trên cuộc cờ người. Tôi không nghĩ như Tư rằng cờ tướng là môn dành cho người quân tử. Với tôi đơn giản đó chỉ là một môn chơi. Ai thích cầm quân mà không có điều kiện “ đánh đấm” thật trong cuộc đời cứ việc ngồi vào bàn cờ tha hồ điều binh khiển tướng. Những kẻ đó khối người chỉ là người thôi chẳng quân tử cũng không tiểu nhân; chẳng anh hùng cũng không hèn toàn diện.  Vả lại thời nay tìm quân tử trong cuộc cờ e còn khó hơn tìm anh hùng chốn thị trường. Không tin bạn thử ra ngỏ mà xem chẳng phải ngoài ngỏ đầy anh hùng đó sao?

Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư hôm nay đã nhiều tôi đọc xong có cái quên cái nhớ. Nhân vật của Tư cũng nhiều nhưng tôi nhớ Hết. Tôi ghét  giọt nước mắt của Hết. Tôi ghét cuộc cờ không cho con tốt sự lựa chọn nào khác. Điều đó có phải là “số phận” vốn thế hay không? Về tốt luật chơi đã định sẵn. Quyền của anh ở chỗ là thích chơi cờ phải chấp thuận không thì lựa chọn môn chơi khác. Nghĩa là anh có quyền từ chối không chơi. Còn Hết sao lại bằng lòng làm tốt trên bàn cờ và chấp nhận nước đi không bao giờ quay về nhỉ?

Những dòng văn của Tư neo trong đầu tôi dấu móc câu hỏi và cứ thế nó bắt buộc tôi lần theo những trang viết của Tư không ngừng. Tư sẽ làm gì cho các nhân vật của Tư? Sẽ mãi để họ với “ Đời như ý” hay chờ đợi phút “Giao thừa” hay sẽ đi cùng khi đã “ Cuối mùa nhan sắc”…

Tôi lẽo đẽo theo các nhân vật nữ của Nguyễn Ngọc Tư. Tôi lang thang cùng “Giang   Nhớ sông” trong cái đêm trở về hai chị em cùng nghe “Hiện nằm ca sang sảng”. Tôi cũng bẩn thẩn bần thần cùng “ Dì Út Thu Lý” đứng đầu ngỏ trong “Chiều Vắng”…Nguyễn Ngọc Tư là thế hệ sanh ra từ 7X sao cái nhìn lại dằn vặt  nhiều chịu đựng trong tình duyên đôi lứa. Chị Đặng Thị Kim Oanh bạn tôi nói rằng phụ nữ thế hệ 5 X vẫn bị trói buộc hoàn toàn trong tiết hạnh gia phong. Phụ nữ sanh ra trong thập niên sáu mươi của thế kỷ trước nhiều vật vả trước cái mới ào ạt ùa vào đời sống cởi bung mọi quan hệ rằng quí ông thì tha hồ năm thê bảy thiếp chị em chính chuyên thờ mỗi một chồng. Thế hệ sanh từ những năm 70 hay gọi là 7 X bước vào giai đoạn khác hẳn 50 và họ rất mới từ nhận thức đến biểu hiện trong tình cảm luyến ái. Điều này gần như không thấy trong các nhân vật nữ của Nguyễn Ngọc Tư?

Nhiều người thích Nguyễn Ngọc Tư không phải do cốt truyện của chị mà là do giọng văn ngọt lịm chất Nam Bộ dân dã.

Đọc văn Nguyễn Ngọc Tư   đọc ký Võ Đắc Danh khiến tôi thấy đằng sau chữ nghĩa của họ là bóng dáng của những nông dân những con người  lặng lẽ buồn buồn. Họ gợi cho tôi bến phà Cần Thơ nơi lần đầu tôi gặp những chiếc xe đạp  chở khách. Các bác phu xe có lời mời ngọt dẻo như kẹo dừa Bến Tre gò những tấm lưng dài nhẳng trên những chiếc xe đạp có chiều dài như mong ước của họ. Họ cũng gợi  nên Hậu Giang Long Xuyên  nơi đàn sáo bay rợp  dân ca; bầy muỗi dày  vãi trấu nhốn nháo liệng đen mắt mỗi chiều quanh bàn nhậu Tía Hai cậu Út uống  đế Cuốc Lủi do các Chế cất từ gạo  Tám với nước sông Tiền sông Cửu Long. Tía bẻ trái ớt hiểm chấm vào chén  nước mắm ép từ con cá Sặc cắn sựt xong bưng ly rượu tăm sủi lăn tăn dựng đứng ực gọn. Họ cũng gợi trong tôi  hình ảnh những cây bần với bầy rễ khỏe khoắn dựng ngược  lên trời trên bên những bờ sông bờ kênh dày đặc phù sa. Trông chúng ngang ngược ngạo nghễ làm sao. Chúng đầy vẻ thách thức và tự tin. Chúng rất thành công từ khai thiện lập địa cho đến ngày nay trong tư thế giữ đất và chiến thắng mọi cuộc xâm lấn của nước biển.  Nhưng  ngày nay chúng gần như  đã đại bại dưới bàn tay tàn phá con người.

Những dòng chữ mang tư tưởng chỉ có thể đủ mạnh khi chúng được nuôi dưỡng trong triệu triệu trái tim. Ngược lại chúng chỉ là rác. Chẳng phải loài người đang thiếu lương thực thiếu tình cảm thiếu tài nguyên cả khí trời rồi cũng sẽ thiếu chỉ rác là tràn ngập đó sao!

Nếu Võ Đắc Danh thuần dưỡng được con chữ trong ký Nguyễn Ngọc Tư khai thác thành công ngôn ngữ dân dã Nam Bộ thì nhà văn Phan Đình Minh khiến người đọc thú vị bằng những câu chữ mới hoàn toàn hay chí ít là tôi đọc lần đầu trong văn thơ của Anh. Về gió tôi ngất ngây khi đọc dòng này trong một tản văn của Phan Đình Minh: “ những lát gió hòa loãng nắng vẩy lên không khí hội hè…” Ngọn gió gió thoảng gió bão gió nhẹ gió hiu hiu gió buốt gió nhè nhẹ vv. Tôi từng đọc rất nhiều đọc đi đọc lại và khi viết cũng quẩn quanh cùng những chữ gió ấy gõ ra. Nhưng chữ “lát gió”  thì mới quá.  Chưa hết về sau cũng là gió tôi còn bắt gặp những gió khác nữa trong văn Phan Đình Minh: “Gió trộn trạo mơn man lá sấu vung vãi xuống đầu. “Gió quẩn ngang trời”;  “Trời trở hong heo bụi đường làng dệu gió” trong “ Tết lạnh”. Và nói về lạnh trong “Tết lạnh” tôi bắt gặp những con chữ lạ chúng khiến tôi tin chúng vừa chào đời dưới bày tay khối óc của Anh:

Bên ngoài lạnh veo véo muốn bứt vỡ tấm kính cửa nhà”. Trong “Chốn quê”.

“…cái lạnh ngoai ngoải trong ánh mắt những người trồng đào.”

 “Da mặt em dường khô hơn bởi tãi giữa những cơn lạnh 7 - 8 độ hun hút trên đường”.

Ánh mắt cô gái buồn vô vảo. Tôi lom rom và bỗng rùng mình khi nhớ lại mình nênh bênh lúc 4 giờ sáng hôm qua” 

 Hoặc những chữ sau đây:

Giọng bà Hình nghèn nghẹt như thổi gió vào ống tre giọng thằng Quý khậu khẹt ngầu ngò”.

Anh Ứng thập thừng.”

 Hoặc những chữ “giấy thiu múc từng thìa nắng bung biêng thấp cao sương khổ... Không còn nhớ được đã đọc tác phẩm nào của Phan Đình Minh chỉ nhớ chữ rất lạ.

Có những chữ Anh viết tôi không hiểu. Tôi đoán có thể đó là phương ngữ cũng có thể do âm tiết phát âm mà ra. Nhưng có nhiều chữ như chữ “lát gió” tôi tin chắc là do Anh nhào nặn máu thịt mình  mà thành.

Có những chữ khi đứng riêng lẻ chắc nó chưa biểu hiện nghĩa gì thậm chí không có nghĩa như “vô vảo”. Nhưng khi nó đứng trong câu: “Ánh mắt cô gái buồn vô vảo” thì đã khiến tôi hình dung trong mắt cô gái ấy không bắt gặp bóng người không bắt gặp lá bay chim liệng hay bất kỳ thứ gì kể cả ảo ảnh. Nó chỉ còn hiện diện choáng ngợp nỗi buồn. Hay như chữ “ khậu khẹt nó chỉ gợi một âm thanh không có nghĩa gì khi đứng riêng; hoặc chữ “giấy thiu múc từng thìa nắng” chỉ có nghĩa bóng…

Tôi tin kho chữ Việt không ngừng bổ sung nhiều từ mới nhiều chữ mới do thời đại do cuộc sống mang lại để cũng có thể dùng nó chuyển tải lại  hơi thở thời đại và mạch đập cuộc sống. Hy vọng  những con  chữ  “ lặm lội” chào đời của nhà văn Phan Đình Minh  sẽ có ngày cùng đứng trong hàng chữ Việt trên nhiều trang viết.

 

NLC

More...

TÔI YÊU NGÀY HAI BỐN THÁNG TƯ

By Nguyễn Lâm Cúc

 NLC

Dăm năm nay gần đây trừ những lúc không thể lên mạng còn nếu đã lên được mà không  “mò’ vào blog Thanh Chung thì giống như khát nước không thể uống. Thèm chết đi được. Hề hề.

Vào Thanh Chung chắc chắn sẽ “thó” được một điều gì đó. Thậm chí còn có thể được thưởng thức “đặc sản bốn phương” mà Chị bất ngờ chiêu đãi một cách hào phóng. Như “CuBa Thiên Đường và Gian khó” bài viết mới nhất của chị khi tôi gõ những dòng chữ này chẳng hạn. Chị đã trình bày về CuBa một cách gần gũi chân thật. Một cái nhìn bình dị không bị méo mó qua bất kỳ lăng kính nào bởi vì chị không có mục đích nào để “mị” người đọc. Một điều bình thường trong thông tin. Nhưng có lẽ quá lâu bị bao bọc bị bủa vây trong những thông tin rập khuôn có mục đích bằng các “sáng tạo chi tiết hoặc cắt xén đoạn khúc” theo ý đồ của tác giả nhóm người  nên tôi và bạn khao khát những dòng thông tin chỉ đơn giản là chụp lại vấn đề một cách trung thực? “Mỗi hộ gia đình một tháng được phân phối vài chiếc đùi gà và hai vỉ trứng. Giá rẻ như cho không. Mua bán thực phẩm ngoài chợ đen bị coi là phạm pháp. Nhiều công chức nhà nước mỗi ngày chỉ ăn một bữa chính vào buổi tối. Bữa sáng gồm vài lát bánh mỳ và một ly cà phê. Bữa cơm trưa được xếp vào hàng “xa xỉ”.” Đoạn viết này của Chị khiến tôi nhớ đến bà Duy mẹ của Bình ở cạnh nhà tôi. Những năm 79 80 của Thế kỷ trước bà Duy buôn hàng chuyến Sài Gòn- Đức Linh và ngược lại. Khi ấy Quản lý thị trường bắt từ hạt đậu xanh đến ký thịt heo. Bà Duy đã bó những ký thịt heo vào đùi vào bụng giả làm người đang có mang để lọt qua các chốt kiểm soát. Bà đã làm thế trong nhọc nhằn đau khổ và cả cảm giác tội lỗi vì phỉ báng thức ăn vì trot cất để thức ăn vào nơi “ô uế” mà người mua có khi dùng làm đồ thờ cúng. Những đồng tiền hổn hển đau đớn đó của bà nuôi Bình thành một ông nhớn ngày hôm nay. Những dòng viết của Thanh Chung cũng gợi tôi nhớ đến một truyện ngắn trong tập “Thời Loạn” của nhà văn Hoàng Đình Quang tôi không nhớ tên truyện không nhớ tên nhân vật chỉ nhớ họ đi qua cửa ngỏ kiểm soát Thị trường ở Long An vào SàiGòn. Anh cán bộ thị trường bắt một soong thịt heo kho với lý do nó quá 5ký cho phép. Người bị bắt năn nỉ khóc lóc trình bày rằng đó là nồi thức ăn mang lên nuôi cha bệnh nằm dài ngày trong bệnh viện Chợ Rẫy. Vì nghèo khó mới phải làm thế cho đỡ tốn kém. Cán bộ vẫn khăng khăng thực thi nhiệm vụ (giá mà ngày nay cán bộ ai ai cũng cứ thẳng mực tàu như thế rạch ròi cương quyết như thế khi thi hành công vụ thì phúc cho đất nước biết mấy) cương quyết bắt giữ nồi thịt kho. Người bị nạn nỗi cáu nói thịt bắt thì bắt nhưng nồi trả lại. ( Hình như ngày đó chưa qui định bắt luôn phương tiện phạm pháp hay sao ấy) vì thế thịt mang đổ ra còn nồi giả cho khổ chủ. Lên xe nhà văn hỏi người mất thịt: Bố anh ốm gì? Anh kia nói bố tôi có ốm đâu. Ai bảo bố tôi ốm? Thì tôi nghe anh nói thế với cán bộ lúc xin nồi thịt. Gã ấy cười hô hố đó là điệp khúc xin xỏ thôi. Nồi thịt ấy là món hàng bỏ mối. Tiếc. Mất cả chục ngày công!

Ôi. Kẻ cắp bà già! Thời thế nó thế. Và có phải thời thế luôn sản sinh ra như thế?

          Hay như đoạn viết sau đây của Chị: “Phía trước tòa nhà “Quyền lợi Mỹ” các bạn Cuba dựng lên 154 cây cột Tượng trưng cho 154 nạn nhân bị khủng bố dưới bàn tay của Mỹ. Vào những ngày văn phòng này cho chạy những dòng chữ điện tử “khiêu khích” kêu gọi tự do dân chủ; Chính quyền Cuba cho kéo lên một rừng cờ đen. Một mặt để che kín những thông điệp do “kẻ thù” đưa ra. Mặt khác những lá cờ đen dài rộng bay phần phật trong gió cũng tạo ra những hiệu ứng tâm lý đặc biệt với cả hai phía.”

Tôi có lẽ đã hàng trăm lần đọc thông tin về đất nước CuBa anh em nhưng đọc bài viết gợi suy nghĩ nhiều là bài của chị Thanh Chung. Tôi tự hỏi sát biên giới với Mỹ sao CuBa lại thiếu thốn lương thực thực phẩm và nghèo khó đến như thế? Trong khi đó về sức vóc con người dân Cuba to cao đâu kém bất kỳ dân tộc lực lưỡng nào trên thế giới? Họ lười biếng đến cùng cực hay cơ chế của đất nước họ trói buộc nhân dân trong cái cơ cực của đạo hạnh thiên đường?

Một bài viết mà sau khi đọc xong khiến bạn phải loay hoay quanh nó nhiều giờ khiến bạn phải cân đong đo   đếm từ những vật phẩm nhỏ nhoi như bó rau lạng thịt đến đất nước và con người thì bài viết ấy dứt khoát phải do một tác giả  có óc quan sát tinh tế tầm nhìn bao quát. Đồng thời tác giả phải có cái "nhãn lực" rất căn cơ với vấn đề con người sống để làm gì? Để mưu cầu hạnh phúc hay chỉ để ăn sống và sống để ăn? Hay để hy sinh hoặc nhận những gì người hy sinh mang lại?

Có rất nhiều người bạn khuyên chị Thanh Chung đừng “cãi nhau” với thinh không nữa. Tôi lại nằm trong số những người thích “mục sở thị” bài viết gọi là “cãi nhau” của Chị. Mỗi khi đọc những bài viết này tôi không khỏi nghĩ thầm Thanh Chung “cãi” như thế chắc ít “thầy cãi” nào dám đứng ra “tay đôi” cùng Chị. Bởi vì vấn đề trong bài viết của Thanh Chung vừa rất cụ thể như “Lượm” của VTV như “ anh Tô” hay như “chuyện thầy Khoa”…nhưng đó cũng là những nổi cộm của tảng băng dư luận về các vấn đề xã hội trong đó sự xuống cấp ý thức văn hóa đạo đức đã làm nhức buốt lòng người. Chị dùng cái chặt chẽ của con mắt nhà Kiểm toán để đo lường sự việc. Dùng cái tâm của người mẹ người chị mà lên tiếng dùng tấm lòng của người thích việc thiện mà san sẻ dùng ngôn từ sắc như dao nặng như đá núi để rạch đôi chia nhỏ vấn đề ra xem xét tỉ mỉ sự sai đúng qua các mặt cắt và có trách nhiệm khi lên tiếng. Tiếng nói của Chị qua các vấn đề trên là tiếng nói thấu tình đạt lý. Vì thế mỗi bài viết về thể loại như vầy thường được báo điện tử website và blog khác đăng tải lại trong đó Quê Choa blog cũng là một trong những nơi rất hay “đồng thanh tương ứng” với Chị.

“Nhân ngày tám tháng ba tôi thiết tha đề nghị bà chủ tịch Hội với tấm lòng bao dung của người bà người mẹ trước những lỗi lầm của con trẻ hãy bổ sung vào các hoạt động kỷ niệm một tiếng nói yêu cầu thực thi công lý cho hai cháu Hằng và Thúy. Xin hãy dừng lại phiên “xử kín” để cho hai cháu được công khai nói hết sự thật trước tòa. Kẻ có tội nhất định phải chịu sự trừng phạt công minh của Pháp luật. Xin trân trọng cảm ơn bà.” Trích trong “ Thư ngỏ gửi Chủ tịch Hội Phụ nữ Việt Nam”. Nhiều tiếng nói trả lời thư ngỏ này tôi rất tiếc là không có tiếng nói của người nào gọi là người có trách nhiệm vì vậy tôi gọi những bài viết này là “ Cãi nhau với thinh không”

Thanh Chung của tôi cũng thật dịu dàng đây là một bài thơ của Chị:

Tháng tư về rồi anh có nhớ không
Có một người vẫn đợi quà sinh nhật
Nửa trời em - xuân còn lạnh lắm
Đào vừa kịp nở hoa

Tháng tư về thêm một tuổi đi xa
Thêm một tuổi cộng vào miền ký ức
Cóp nhặt yêu thương khát khao hạnh phúc
Đêm chông chênh - hai phía không người

Ve đầu mùa day dứt tháng tư ơi
Điều chưa nói không còn mong nói nữa
Mưa giận dỗi những chiều quay quắt nhớ
Đêm trở mình thêm một tháng tư qua.

New York - tháng 4/2008

 

          Trong bài thơ trên Thanh Chung của tôi như bao người phụ nữ khác khát khao hạnh phúc bình dị bên Anh với những dỗi hờn và thương nhớ. Chông chênh ở phía không bóng người. Thế nhưng Chị cũng là một phụ nữ ít chị em sánh kịp. Vượt qua nhiều cuộc thi nhiều đối thủ để trở thành nhân viên Chương trình nhân đạo của Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam rồi thi và trở thành nhân viên tại cơ quan Liêp Hiệp Quốc ở New York đó là việc khó ngoài sức tưởng tượng của tôi và Chị khiến tôi tự hào. Thanh Chung thạo hai ngôn ngữ Pháp và Anh. Chị từng là giáo viên ngoại ngữ tiếng Pháp.

          Sanh ra trong một gia đình nghèo. Bố mẹ là cán bộ kháng chiến. Bố mẹ đều mất sớm. Chị Hương người chị cả trở thành “mẹ” của cô em út Thanh Chung ở cái thời tóc đầy chấy người đầy rận và đói khát từ bát cơm đến hơi ấm yêu thương. Kể một chút để hiểu được con đường Thanh Chung đi qua là một con đường đầy khổ ải muốn vượt phải có một nghị lực hơn người và kiên trì đến khó tin. Vậy mà Thanh Chung đi được đi từng bước và đi vững vàng.

          Tôi nhớ tháng sáu 2010 tại đường Paster SàiGòn trong một gian phòng dành cho cán bộ của Cục Đường thủy chúng tôi nằm bên nhau nói nhiều thứ nói xuyên đêm. Nói từ văn chương sang đến con người. Nói từ các nhân vật lừng lẫy trên Thi đàn Văn đàn đến những cây bút chúng tôi vừa làm quen. Thanh Chung có các ý kiến chuẩn xác về chữ nghĩa có những so sánh khó bác bỏ luận cứ nhân vật và cũng có những nhận định “chết người” Chị nói: Những cây bút nước mình đa phần viết bằng kinh nghiệm sống họ rút hết các kinh nghiệm thì không còn gì nữa. Họ rất ít cơ hội để viết chuyên nghiệp nghĩa là không nghĩ đến các vấn đề cơm áo suốt đời chỉ chăm chắm vào chuyện văn chương và làm việc có giờ giấc chứ không sáng tạo theo cảm hứng như hiện nay có như thế họ mới đào sâu hơn nữa các vấn đề về con người về nhân bản về mưu cầu về ý nghĩa về quyền lợi vv và vv. Chị là một tay nghiện sách. Trong valy túi xách của Chị lúc nào cũng có một quyển sách. Trên chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam chị ngấu nghiến xong vài tập truyện ngắn sau chuyển thành quà cho tôi. Từ đó có thể hiểu cái tâm của chị đối với văn chương viết lách.

          Một bài viết ngắn ngủi khó nói đầy đủ về Thanh Chung. Tôi rất thích câu này trong “quà sinh nhật” của nhà văn Phan Đình Min: “ Viết về Thanh Chung thích dừng ở đâu thì dừng” vì nói hết khó mà hết. Vì vậy bài viết này của tôi là một mẩu bánh góp vào chiếc bánh sinh nhật dành tặng Thanh Chung.

          Tôi đã yêu tháng Tư yêu ngày 24 ngày này chỗ tôi ở rực tím những ngọn đuốc hoa bằng lăng chúng gợi nên bao đều tha thiết và chúng nhắc tôi nhớ về người bạn Thanh Chung ấm áp trong ngày sinh của Chị.

 

More...

BA SẼ VIẾT THƯ...

By Nguyễn Lâm Cúc

 

Tôi có quà!
 Một món quà quí giá đã đến từ trước tết nhưng vì về chăm Mẹ ốm ở Xuyên Mộc nên không biết. Sáng nay cô văn thư mang lại cho tôi chiếc phong bì được người gửi tự tay xếp bằng giấy A 4 bên ngoài những dòng chữ viết nắn nót gửi con ba Ngô Đình Cường.

Tôi cầm phong bì lòng rưng rưng mắt cay nhòa. Bên trong đằng sau cánh thiệp Ba tôi viết " Xuân Tân Mão 2011 sắp về Ba thân mến chúc con và gia đình một năm mới thân tâm thường lạc vạn sự cát tường như ý. Ba Cường".

Không phải năm nào Ba Cường cũng viết và cũng không phải cứ tết mới viết. Tôi nhận được thư Ông vào những lúc bất ngờ nhất. Nhưng mỗi khi nhận thư của Ba Cường đều là những lúc tôi đang có một vấn đề. Những sự trùng hợp này cứ lập đi lập lại khiến tôi tin bằng cách nào đó Ba Cường của tôi luôn hiểu được tâm tư đứa con không có cùng huyết thống và Ông nâng đỡ tinh thần tôi mỗi khi Ông cảm được tôi đang bối rối lo sợ.

Ba Cường của tôi nhận tôi làm con khi tôi mười bảy tuổi. Lúc đó Ba Cường của tôi đã là một nghệ sĩ nhiếp ảnh lừng danh của Việt Nam. Tên tuổi của Ông gắn với tên tuổi của những nhiếp ảnh gia như Võ An Ninh đồng thời Họ là đôi bạn. Mỗi dịp nghệ sĩ Võ An Ninh ghé Phan Thiết đều tìm đến nhà cũng là hiệu ảnh của Ba tôi ở số  nhà 18 - Nguyễn Trường Tộ - Phan Thiết để hàn huyên và giải tỏa những mối quan tâm về nghề nghiệp cũng như sáng tác ảnh nghệ thuật. Nghệ sĩ Võ An Ninh và Ba Cường của tôi cũng từng có chung những ngày làm giảng viên dạy  "KỸ THUẬT NHIẾP ẢNH" cho lực lượng cầm máy các tỉnh phía Nam tổ chức tại thành phố Nha Trang.
   

Ba Cường sinh ra và lớn lên tại  Phan Thiết. Phan Thiết cũng là nơi Ông gắn bó suốt đời với nghiệp ảnh. Đến nay có lẽ Ông đã có hơn 70 năm bấm máy ghi lại những phút giây đẹp đẽ ấn tượng của thiên nhiên và cuộc sống. Những tác phẩm của Ông phần lớn đều đậm đà cảm xúc yêu thương cuộc sống con người bố cục đơn giản. Ông đã đoạt 02 tước hiệu "danh dự cao đẳng nhiếp ảnh nghệ thuật" và đoạt 01 tước hiệu nhiếp ảnh nghệ thuật Monkok- Hồng Kông (1973). Ông cũng từng có những tác phẩm được tặng "Tượng vàng" huy chương vàng bạc trong nước và quốc tế. Và Ông cũng đã được công nhận là hội viên Hội nhiếp ảnh Hoàng gia Anh vào năm 1971.

Ba Cường còn là một cây bút mặn mà thuở thanh niên với truyện ngắn "BẾN CŨ" ông viết vào năm 20 tuổi được tuần báo "Tìm học" ở miền Nam trao giải thưởng trong một cuộc thi do báo tổ chức năm 1949. Ba Cường say Thơ Đường khi rỗi rảnh còn viết cả nhạc...

Với tôi Ba Cường là một Ông Tiên hiền lành bước ra từ những đám mây bảng lảng. Thường thì đôi ba năm tôi mới có dịp gặp Ba một lần. Những khi ấy Ba nói với tôi về cuộc sống về cách hành xử sao cho cuộc đời bớt xù xì cay nghiệt. Lời nói của Ông dịu hiền và thông thái. Cử chỉ của ông an lành. Tôi chưa bao giờ thấy Ba Cường giận dữ hay giận hờn gì ai. Một lần nọ Ông dạy tôi: " Con à. Cái gánh đời con con phải gánh cho đến tận cùng. Không ai có thể gánh thay. Ba dù có muốn cũng không sống thay hay đưa vai gánh đỡ dùm con dù chỉ giây lát. Vậy thì hãy vui vẻ mà gánh. Đừng muộn phiền gánh mãi thế con. Con không thể thay đổi cuộc đời thay đổi mọi sự đã an bài thì con hãy cố gắng thay đổi tâm trạng của chính con vậy. "

Ba Cường nói câu ấy cách đây đã gần 20 năm. Lúc đó Ông đã mang trong mình vài chứng bệnh và ông sống chung với bệnh một cách kiên cường. Hàng ngày ông dùng chiếc xe máy tay ga nhỏ nhẹ mang theo thức ăn nước uống đi săn ảnh như một cuôc dạo chơi. Về sau ông dùng xe đạp. Bây giờ tuổi tác đã quá cao ông ít khi có thể đi ra bên ngoài nhưng tinh thần vẫn lạc quan và minh mẩn.

Phải vài năm sau tôi mới hiểu hết được câu nói của ông và gắng sức làm theo. Tôi đã thay đổi dù hoàn cảnh chưa hề đổi thay nhưng tôi bắt đầu cười dòn tan mỗi ngày dù bất kỳ đều gì xảy ra tôi cũng bình tĩnh và...vẫn đủ sức để...cười.

Tôi biết ơn Ba Cường!

Năm nay Ba Cường lại gửi thư và thiệp cho tôi khi mà sức khỏe của Ba là cả một vấn đề. Tôi gọi cho Ba tôi kêu : Ba ơi! Tôi nghe Ba Cường tôi cười vui và nói: " Ba tính khi nào Ba khỏe và không có khách thăm chơi Ba sẽ viết cho con một bức thư...".

Tôi ngước mắt lên trời.
 Cầu cho Ba tôi khỏe!

 

 

NLC

More...

CƠN ĐÓI VÀ BỨC TRANH

By Nguyễn Lâm Cúc

 
Nguyễn Lâm Cúc- Viết tặng anh Nguyễn Vạn An 


Tên chị là Phượng. Chị dân Huế tím nguyên gốc. Lúc chị ngồi nghiêng nghiêng gương mặt trái xoan trên chiếc máy may những sợi tóc bay lòa xòa trước trán. Nhìn mất cả hồn. Người ta quá đổi kinh ngạc khi phát hiện ra trong tủ kim chỉ trong ruột những xấp vải trong túi áo của chị và cả giữa trục những cuộn chỉ to bằng cổ tay những vắt cơm nắm chặt những mẩu bánh mì. Có nắm cơm đã mốc meo có chiếc bánh vừa mới bị cất dấu còn thơm phức mùi hương vani.


           
Chị bị đuổi ra khỏi tiệm may vì chủ biết chị bị điên.

Nghe đâu cơn điên của chị có nguồn gốc từ những ngày đói mốc ruột mà cả gia đình chị gánh chịu vào thập niên 80 của thế kỷ trước. Đứa em út của chị đã chết do nhai củ sắn sống. Chị bắt đầu dấu diếm thức ăn từ đó. Cơn đói của chị không thể nguôi ngoai cũng bắt đầu từ đó.

            Không hiểu sao tôi ngắm bức tranh này đã nhớ đến chị Phượng. Nhớ đến màu tím Huế. Nhớ nửa gương mặt thanh tao của một cô gái điên. Nhưng hơn hết tôi nhớ đến cơn đói không thể nào xoa dịu của người con gái này?

            Tôi với chị có chung một điểm: đói. Cơn đói của tôi đến giờ cũng không nguôi. Ở một mặt nào đó tôi cũng là người không bình thường. Vì không thể nguôi đói.

Hãy cho phép tôi trở lại chuyện đói cuối bài viết này. Bây giờ là tranh.

            Tôi đồ rằng tác giả bức tranh này là một phụ nữ? Chị rất yêu người đàn ông trong tranh. Đó có thể là chồng hoặc cha của chị. Người phụ nữ có trái tim dịu dàng. Sở hữu đôi bàn tay mà mỗi cái vuốt ve đều làm tuôn tràn dòng suối mát yêu thương trong lòng người. Chị đã mang tất cả những thứ đó pha thành màu sắc tinh khiết thánh thiện và đầy trìu mến vẽ nên tình cảm giữa con vật yêu và người chủ nuôi ân cần. Không phải thế. Đó là cha và con. Cũng có thể họ là đôi bạn. Không thể là vật và người chủ và tớ được. Sự giao hòa tình cảm của loài người và vật trong bức tranh này không có ranh giới. Đó là một sự hòa quyện yêu thương vô cùng mầu nhiệm. Trong ánh sáng nhân ái của bức tranh tôi cảm thấy mình được yên ổn. Cơn đói của tôi lúc này đây hình như tạm lắng dịu.

            Đúng như vậy. Tôi có nỗi lo âu thắt thõm không ngừng nghỉ đó là cái gì không cụ thể. Chỉ biết rằng tôi không bình yên. Nhưng hôm nay ngắm bức tranh này và nhớ chị Phượng nhớ về cơn điên nghiệt ngã vướng vào đời chị cùng cơn đói không nguôi tôi hiểu cơn đói triền miên của tôi là : sự trìu mến chan hòa kia.

Tôi cũng thích thú nghĩ rằng tác giả bức tranh này có một tâm hồn như một hồ nước trong xanh tràn đầy và tuôn chảy sóng sánh đến bất kỳ người nào có cơ may gặp gỡ. Tâm hồn trong lành đó chảy tràn qua những ngón tay và thấm đẫm cả màu sắc tối tăm nhất: màu đen.

More...

NHỮNG HẠT MƯA NÓNG

By Nguyễn Lâm Cúc

 

Nguyễn Lâm Cúc

           
Sao tôi lại dửng dưng khi trời mưa nhỉ? Nhất là những hạt mưa tròn vo rớt dòn dòn trên mái tôn làm bốc lên những làn khói trắng và làn hơi  nóng hầm hập. Và cũng nhất là sau một trăm sáu ba ngày nắng vênh vênh cái mặt đỏ choé đáng ghét? Nắng tới đổi tôi có thể ngửi thấy mùi khét từ chiếc lá xanh héo oặt. Chiếc lá cứ thế thành tro vụn vỡ không kịp cả việc đổi màu. Thế cũng chưa lạ sao tôi lại ngửi thấy cả mùi khét từ miệng giếng chị Miên đêm đêm đứng hàng giờ kiên nhẫn vét từng gáo nước đục rỉ ra từ cái đáy sâu hun hút?

Khô và khát! Đứng trong nhà hay ngoài sân. Thậm chí cả trong giấc ngủ cũng cảm thấy cơn khát cháy nơi cổ họng cái nóng bò chậm chạp dưới  cái lưng đẫm mồ hôi trên khắp thân thể và cả trong suy tư.

            Hai tuần trước có một cơn mưa ở phía chân trời. Chị Miên nói như thế. Hay đúng hơn là chị ước ao như thế. Chị bảo sao chỉ mưa nơi ấy thôi tiếc gì chút gió mà Trời chẳng thồi đám mây đùng đục ấy về đây? Sáng sáng tối tối chị Miên kẹp cái Radiô không rời chỉ để nghe thời tiết. Lúc nào cũng một giọng khê nồng của ông phát thanh viên người Bắc rằng miền Nam Trung Bộ trời trong xanh nắng nóng...

Trời trong xanh thật.

Một bầu trời ngọc bích biêng biếc xanh vời vợi.Xanh như thể suốt đời chỉ cốt làm  mỗi một việc rút hết gân mà xanh. Những đám mây trắng bồng bềnh trôi nhởn nhơ từ đông sang tây rồi lang thang vào đâu đó ở miền vô định. Chị Miên thở dài thườn thượt. Chốc lát lại chạy ra ngó trời. Chị không nói ra miệng nhưng tâm chị thắp không biết bao nhiêu nén nhang đọc không biết bao nhiêu lời khấn nguyện trời hãy rớt một cơn mưa. Sào lúa nhà chị đang trổ. Con dâu mang bụng gần ngày sanh da tai tái vì ốm nghén và cũng vì thiếu đói. Sào lúa sẽ làm cho cả nhà yên lòng vì ít ra cũng không lo gạo vài ba tháng. Lúa đang trổ. Bây giờ thì những bông lúa dựng thẳng lên như cờ lau. Chỉ riêng chòm nằm lõm giữa ruộng là hơi uốn cong cong một chút. Chị Miên lội vào chỗ ấy với niềm hy vọng còn sót lại. Bông lúa nhẹ hẫng.

            Hôm qua chị Miên đã gặt lúa. Chiều tối mặt chị đỏ gay vì say nắng. Nhìn chị lúc ấy như sẵn sàng đánh nhau với cả cối đá.  Lúa gặt xong để luôn ngoài ruộng dự định lúc rãnh rỗi mang về chất thành rơm cho gà bới kiếm ăn. Chị Miên nói thế. Sáng chị Miên gặt lúa chiều trời đổ mưa. Chị Miên  xoạt xoạt lia ngọn chổi khắp mặt nhà. Ngọn chổi đưa như đập từng nhát vào  nền xi măng. Trời có khác. Khi người ta lạy đứng lạy ngồi không mưa cho! Khi chẳng cần thì mưa tàn mưa hại! Có đáng làm Trời không chứ? Chị Miên vừa quét vừa lầm bầm.  Nếu chị Miên khóc liệu từ khoé mắt chị có giọt nước nào được vét ra? Tôi hết sức tò mò về việc ấy nhưng chị Miên không khóc. Chị Miên chỉ đập ngọn chổi như muốn đập tan những hạt mưa to tròn nóng hôi hổi đang rớt xuống trên mặt sân. Vài phút sau mặt sân bốc lên những làn hơi đầy mùi đất oai oải và nóng hừng hực rất khó chịu.

            Tôi nhoài người ra cửa sổ để nhìn xem cơn mưa to đến cỡ nào. Xì. Cũng chỉ là mưa bóng mây thôi làm gì phải õng ẹo từ đầu tháng đến cuối tháng mới rớt hạt chứ?

            Rồi tôi bỏ mặc những hạt mưa nện tong tong xuống mái hiên che nhà để xe. Tiếng mưa trên mái tôn ồn ào rất mất thiện cảm. Nếu mưa lâu chút nữa chắc tôi sẽ nổi khùng. May quá đã nhìn thấy lại trời xanh. Những hạt mưa mỏng lại không còn rơi mà bắt đầu bay bay. Ngoài hàng rào những cành băng lăng màu tím không nhợt nhạt như ban sáng. Chúng vừa được giải khát.

            Chỉ riêng chị Miên là cơn khát lúc này không thể giải được bằng nước nữa. Mưa thật vô tích sự và đôi khi mưa cũng rất ác!

           

More...

KÝ ỨC THÁNG TƯ

By Nguyễn Lâm Cúc

 



Truyện ký Nguyễn Lâm Cúc

Đức Linh là vùng Giải phóng sớm từ cuối năm 1974 nhưng Sư Đoàn 18 của Ngụy từ Long Khánh chi viện qua ngả  Quốc lộ 120 đến cây số 125 Định Quán rồi vượt sông La Ngà sang đóng quân trong những rừng cao su bạt ngàn lại đánh tái chiếm. Nhưng đến ngày 23/3/1975 thì quân Ngụy tháo chạy hoàn toàn. Trong thời gian từ cuối năm 1974 đến 23/3/1975 cao điểm Núi Dinh là một trong những điểm nóng hai bên quyết dành cho bằng được. Không biết bao nhiêu bom đạn rải thảm trên ngọn núi độc lập này ban ngày đất bụi từ đỉnh núi tung đỏ trời kèm theo những tiếng nổ ùng oàng không ngớt. Ban đêm ngọn núi cháy đỏ rực vì bom Napan. Từ thị trấn cách núi chỉ 5 km nhìn lên núi cháy như một bó đuốc chỉa thẳng lên nền trời để soi sáng một điều gì đó.

Ấy là thời gian tôi chứng kiến chiến tranh. Ban đêm cả nhà ngủ trong hầm ban ngày người người nháo nhác. Sau vì nhà tôi quá gần Chi khu quân sự của Ngụy chỉ cách khoảng 300 mét tính theo đường chim bay cha mẹ tôi quyết định đem cả nhà ra đồng trống.

Trên cánh đồng lúa ven song La Ngà giáp ranh với Định Quán mọc lên hàng trăm căn chòi tạm bợ được cất bằng vải bằng nong nia bằng lau lách. Sau đó không biết người lớn bàn bạc nhau như thế nào mà mọi người kéo trở ngược vào thôn rồi leo lên những chiếc xe tải. Hàng đoàn cả trăm chiếc xe tải chở hàng ngàn người rời bỏ nhà cửa ra đi. Khi xe chạy theo con đường vòng qua Chi khu tôi nhìn thấy khói bốc lên nghi ngút đây đó trắng xóa giấy tờ như ai rải truyền đơn và vắng hoe không một bóng người. Quân Ngụy đã rút chạy hòan toàn.

Đó là những ngày cuối tháng 3/1974.

Những chiếc xe tải chở chúng tôi phải dừng lại ở Trà Tân cách nhà tôi chừng 10 km. Phía trước trên con đường độc đạo đang có giao tranh ở Gia Rây cách nơi chúng tôi dừng lại cũng khoảng 10 km. Mọi người rời xe tải nằm vật vạ dưới những bóng cây hoặc kiếm một cái gì đó che tạm. Trẻ con khóc mếu máo vì sợ vì đói và vì cả khát nữa. Tháng ba đang mùa khô. Nước mang theo của từng gia đình đã cạn. Tôi chạy theo những người kiếm nước ở những suối nước trong rừng sâu. Nhưng chỉ kiếm được một ít nước đục ngầu.

Ngày hôm sau tiếng sung giao tranh phía trước vẫn đì đùng. Nhiều người quay trở lại nơi đã ra đi. Nhiều người bàn bạc tìm con đường xuyên rừng để ra quốc lộ 1. Cha mẹ tôi đi theo những người quả quyết xuyên rừng. Họ hăm hở bắt đầu cuộc hành trình mà tôi luôn luôn tự hỏi không biết họ chạy đi đâu?

Đầu tiên là vất bỏ những thứ nặng mặc dù đó là gia tài của họ về sau cả xe Honda cũng vất bỏ vì hết xăng không để đẩy trong đường rừng cuối cùng cả gạo cũng chỉ mang theo đủ vài ngày ăn. Đoàn người lết thết vất vả đi theo những con đường ngoằn ngoèo trong rưng mà hình như chẳng ai biết con đường sẽ dẫn họ đến đâu. Khổ nhất là không có nước. Nhiều người chặt dây rừng để uống. Cha mẹ tôi không biết chặt dây rừng tôi thương Đen khát khô nẻ cả môi miệng mà chẳng biết làm sao tôi tìm những bông hoa nở dọc đường hái đưa cho Đen hút nhụy cho đỡ khát. Có một hố bom đọng nước đỏ ngầu ven đường mòn nhiều người lao xuống múc uống tôi cũng nhào xuống tranh tôi hứng đầy chiếc bình hai lít mang theo người đem lên cho Đen tu ừng ực thứ nước đầy bùn đỏ và nòng nọc con. Đem đó Đen và tôi cùng đau bụng quằn quại. Khổ nhất là Đen đi ngoài cả khi đang ngủ nó bị đòn còn tôi thì lò mò tìm cái để lau để thay và để an ủi Đen.

3 ngày sau chúng tôi tìm thấy bìa rừng tìm thấy nhà và thấy nước nơi chúng tôi tìm thấy chính là Gia Rây chỗ chiến sự mấy hôm trước. Nhiều nơi khói chiến tranh vẫn còn bốc lên đầy đe dọa.

Theo đường tỉnh lộ 133 đoàn người rồng rằn bồng bế cõng nhau lội bộ vượt qua Gia Rây qua ngả ba Ông Đồn. Tại ngả ba Ông Đồn nơi ngày nay là UBND huyện Xuân Lộc tôi nhìn thấy xác người chân tay của họ vương vãi trên bờ dây thép gai của chi khu quân sự. Trên đường tôi thấy một đoàn quân Giai phóng vượt quốc lộ 1 họ băng từ bên này sang bên kia tất cả đều mặc đồ đen mang dép cao su có quai hậu quấn khăn rằn trên cổ. Đó là lần duy nhất tôi nhìn thấy quân giải phóng trên súôt hành trình tháo chạy vô vọng của những người sợ chiến tranh.

Mọi người dừng lại một đêm ở Suối Cát cách ngả ba Ông Đồn chừng 2km. Hôm sau họ lại băng rừng ra Căn cứ 2. Lần này họ đã thành công. Ở Căn Cứ 2 họ tìm được xe đi nhờ về Bình Tuy.

Tại Bình Tuy có một nơi gọi là Trại Tỵ nạn dành cho những người chạy nạn hàng trăm căn nhà cất tạm bằng lá buông được cất trên một khu đất trống. Mỗi gia đình được cấp một căn nhà lá buông và 50 kg gạo. Tôi thầm mong gia đình tôi ở mãi nơi ấy luôn vì tôi không biết họ chạy đi đâu để làm gì. Không ai quan tâm đến tôi và chẳng ai buồn trả lời những câu tôi hỏi.

Tôi lang thang ra đường quốc lộ trên đường xe quân sự đủ loại chở đầy lính và sung ống đạn dược có cả những quả đạn dài thong nhọn hoắt đuôi xòe hoa. Chúng chạy ngược chạy xuôi. Lính ngụy cũng rất nhiều chạy xuôi chạy ngược. Có cả những hàng lính đi bộ nữa họ đi hối hả vội vàng nhưng có vẻ như không biết đi đâu. Vì nhìn họ  vẻ hốt hoảng nét mặt thất thần đi từng tốp từng nhóm   không có hàng ngủ gì cả. Sau này tôi biết đó là những lính ngụy vừa rời bỏ mặt trận rời bỏ nhiệm vụ tháo chạy.
Ba mẹ tôi lại theo đoàn người rời căn nhà là buông mà tôi rất thích vì nó cho tôi sự yên tâm vì Đen có thể thoải mái nằm ngủ giữa căn nhà rộng tuênh toàng mà ít bị ăn đòn. Theo cha mẹ tôi và mọi người ra cửa biển bước lên những chiếc ghe đánh cá. Cửa biển sóng chồm từng cơn trắng xóa hung dữ chiếc thuyền tròng trành như lá tre trên mặt nước. Con người quá nhỏ bé mong manh trước bao la biển trời nhưng đồng thời con người cũng là loài có sức mạnh hủy diệt ngang bằng với sự mạnh của Tạo hóa. Tôi bò lên trên mũi thuyền để nằm. Chiếc  thuyền chạy ven bờ biển mảnh trăng non buồn bả trên nền trời. Tôi khấn tên Phật Quan Thế Âm cho đỡ sợ rồi nằm nhìn bầu trời và lâu lâu sở mũi Đen thử Đen còn thở không.

Thuyền cập bãi biển Vũng Tàu. Đó là Bãi Trước. Tôi nằm sóng xoài trên bờ say đứ đừ sang cả hôm sau. Tôi nằm như con mèo ướt dưới hàng ngàn bàn chân hối hả đi đi lại lại mà không hề ebi61t phải đi đâu.Gia đình tôi lang thang loanh quanh ở nhiều nơi tại Vũng Tàu. Có hôm cả nhà qua đêm trên một nhà vệ sinh lộ thiên mà không biết sáng hôm sau dưới lưng của hàng ngàn người bầy dòi từ những lổ đi đại tiện bò lúc nhúc.

Thành phố vắng hoe thi thoảng có tiếng sung đâu đó. Trời ạ không phải sung giao tranh mà là sung phá cửa những kho hàng cửa hiệu để cướp của. Trong đoàn người của chúng tôi cũng có nhiều người tham gia những vụ cướp của ấy.

Chúng tôi lấy lất từ bến tàu đến sân chùa từ trong nội thị tìm về những nẻo thôn. Ngày này qua ngày khác chúng tôi cứ lang thang như vậy mà không biết để làm gì. Có nhiều ngày tôi chạy ra bến tàu thấy những chiếc tàu to lớn chất đầy người chuẩn bị nhổ neo. Trên bến nhung nhúc người chen chúc xô đẩy để dành những bước chân chập hẹp lên chiếc cầu tàu. Một vị Linh mục đứng nhìn cẩn ấy và lần tràng hạt cầu kinh. Có lần tôi nhìn thấy một chiếc tàu màu đỏ to lớn vừa rời cảng biển chưa kịp khuất tầm mắt thì đã chìm ngỉm. Tiếng khóc tiếng la cầu cứu rền một góc trời.

Tuyệt nhiên không hề nghe tiếng súng giao tranh như dự đoán của nhiều người.
Sau đó gia đình tôi lại lang thang tìm qua Long Hải. Ở Long Hải một thời gian nữa lại lang thang tìm đường về Biên Hòa Long Thành Đồng Nai và cuối cùng chúng tôi trở lại nhà sau 4 tháng chạy trước hòn tên mũi đạn. Cho đến bây giờ tất cả những người trong đoàn người chạy rồng rắn ngày nọ không ai giải thích được là họ chạy đi đâu làm gì vào những ngày tháng đó.  Họ không giải thích hay không thể giải  thích nhỉ?
Chuyến đi ấy vô tình tôi đã đưa tôi cùng những giây phút lịch sử của đất nước qua nhiều vùng miền. Bây giờ lịch sử chứng minh quân Ngụy sau khi thất bại nặng nề ở Tây Nguyên và bị Mỹ bỏ rơi đã khủng hoảng tinh thần. Bên cạnh đó cuộc chiến tranh phi nghĩa của chúng đã bị nhân dân cả nước bạn bè trên thế giới lên án cực lực buộc chúng vào tình thế chỉ có thể đầu hàng buông súng chứ không có chọn lựa nào khác.

Tôi cũng đã chứng kiến họ buông súng thật. Cái sự buông súng kịp thời đúng lúc đó là may mắn lớn của dân tộc Việt Nam. Vì sau khi Tây Nguyên thất trận từ Quảng Trị đổ vào chỉ có Xuân Lộc -Đồng Nai là nơi xảy ra giao chiến còn lại quân Giải phóng đã tiếp quản nhiều thành phố quân khu để ngỏ. Không có giao chiến trên nhiều tỉnh thành điều này đồng nghĩa là không có thiệt hại xương máu của hàng trăm ngàn người ở cả hai bên. Và cả những người dân lành vô tội ngu ngơ như đoàn người chạy trước mũi súng của cha mẹ tôi. Nếu chiến sự diễn ra nơi nơi biết đâu một viên đạn đã cướp mất NLC từ ngày nọ khi còn là một cô bé mũi dãi lòng thòng trong đoàn người cứ đi như vịt?

More...

CON ĐƯỜNG LOANH QUANH

By Nguyễn Lâm Cúc

 

( Ảnh lấy từ Internet)

Truyện ngắn: Nguyễn Lâm Cúc

 

 

Thi nghỉ học sang phụ dì coi em. Người thì nói con nhỏ coi sáng sủa vậy mà dốt học chữ hỏng có vô chỉ hóng hớt nói leo với súôt ngày chải vuốt là giỏi. Người lại thở dài đánh sượt nói má nó biểu nó nghỉ nhà đông em con gái học nhiều mần chi vả lại có học thì cũng loanh quanh lớp 9 lớp 10 chứ coi bộ lên nữa không đủ sức. Thi nói học tới lớp 9 lớp 10 nghỉ thì thà nghỉ luôn giờ cho khỏe. Nó vung mấy quyển sách bay lên trời rớt tá lả đầy sân. Quyển sách Văn rớt ngay chân nó tung luôn một đá văng vào con chó đang nằm thiu thiu ngủ khiến nó vùng ra khỏi giấc mơ vồ con gà mái kêu ẳng một tiếng thất thanh bỏ chạy. Vậy là con Thi nghỉ học cái rụp khi mới bước sang kỳ hai của năm học lớp 8.

Sang nhà dì Thi lớn phỏng lên má thiếu nữ ưng ửng chin mỗi khi trời bắt đầu nắng. Mấy ông hàng xóm lẫn đám con trai của họ kéo nhau sang nhà bà Hoa rần rần họ nói mấy cây mai chiếu thủy nhà chị sao lạ quá chưa tới tết mà nở rật rật. Miệng nói cây hoa mắt như cái đèn pin chiếu dính vô mình con nhỏ chặt cứng như keo dán sắt. Bà Hoa nói với má con Thi chị phải kiếm cho con Thi một cái nghề hay một việc gì đó trong công xưởng chứ coi bộ để vầy là không xong đó nghe. Nhưng muốn làm gì cũng phải có cái bằng tốt nghiệp trung học tệ lắm cũng phải là bằng trung học cơ sở. Thời buổi bằng cấp mà chị.

Má con Thi ngồi cười tỉnh queo nói thời buổi gì mà toàn đồ giả. Ba cái bằng đó toàn thứ  bằng giả ráo trọi chứ cao sang gì. Đến người mà còn làm ra  người giả được nữa là mấy mảnh giấy có chụp cái đấu đỏ đỏ. Dì Hoa nói giả vậy đó chứ không có nó để xòe ra đố chị qua cửa nha môn cho lọt! Má con Thi nói chuyện gì chứ bằng tốt nghiệp trung học cơ sở thì dễ ợt. Năm nào ông thầy Sáu lại không vác mặt đến nhà năn nỉ ỉ ôi biểu cho con Thi đi học bổ túc thi tốt nghiệp. Mấy bữa rày ổng lại tới nữa đó mặt ổng méo xẹo vì sợ không hoàn thành kế hoạch kìa.

Năm đó kỳ thi tốt nghiệp bổ túc trung học sơ sở được tổ chức ở trường Thí nghiệm thực hành tại thị trấn Lu Li. Vì nhà ở xa nên má con Thi mượn cái xe hon da chở con Thi đến tận nơi. Vừa thấy mặt bà gương mặt đầy lo âu rười rượi của thầy Sáu bừng tỉnh như ngó thấy cứu tinh. Ông kéo má con Thi sang một góc rồi thầm thầm thì thì. Sao được. Má con Thi nạt ngang tui có học hành gì mà biểu tui vô thi biết gì mà viết?

Không cần chị phải viết chỉ cần bà chị ngồi trong lớp cho đủ số người còn chẳng cần bà chị làm gì hết bài thi sẽ có người làm đưa vào bà hiểu chưa. Ủa! Thi gì kỳ vậy cha nội? Bà chị sao nói nhiều hỏi nhiều kỳ quá! Bà chị cứ làm theo hướng dẫn của tui chỉ vậy là bà chị đã cứu giúp tui qua khỏi kiếp nạn lần này. Tui lạy chị nè chị.

Nhưng tui mất công cả ngày mà hỏng được gì sao? Má con Thi hỏi. Sao hỏng được giề. Thầy Sáu nói tui trả cho chị mỗi ngày một trăm ngàn. Chị coi đi cuốc cháy lưng tiền công có năm chục ngàn ngày kìa. Tới đây thì má con Thi im re lỏn lẻn vào ngồi làm thí sinh với con gái.

Kỳ thi đó tất cả những người có tên trong danh sách thi đều tốt nghiệp.

Ai nấy vui mừng. Con Thi đem cái bằng tốt nghiệp ra ngắm cái hình bốn sáu dán ngay đầu mảnh giấy đã được bọc bìa nhựa  vài ba lượt rồi đem cất. Nó đi bưng càphê ở một quán nước quán này tuyển tiếp viên nữ chỉ coi mặt có đẹp không chân có dài không chứ tuyệt nhiên không hỏi bằng.

 Mừng nhất chính là thầy Sáu.

Lang bạt khắp nơi thầy Sáu về định cư tại thị trấn Lu Li từ năm 1983. Với bằng tốt nghiệp một trường Trung cấp Lý luận thầy Sáu  được nhận chân giáo viên trung học cơ sở dạy môn lịch sử. Ngày đó trường nhiều thầy ít lương đói. Chụôt chạy cùng sào mới vào Nhà giáo. Nhưng bây giờ không phải vậy trường đang dôi dư  giáo viên vì nhiều lẽ lắm. Một số thầy cô đã nghỉ hưu nhiều thầy cô bố trí công tác khác như làm bảo vệ làm nhân viên vệ sinh làm thủ thư. Thầy Sáu được phân công phụ trách mảng Giáo dục phổ cập đâu phải là chuyện may mắn mà là nhờ công của ông Kiệm.

Ông Kiệm bây giờ chỉ là một cán bộ hưu trí ngày hai buổi đi đánh cờ tướng ăn thua gì cũng cười hề với câu tiễn chốt nơi cửa miệng.  Nhưng vào thời bao cấp ông Kiệm ban phát nhiều ân huệ cho rất nhiều người mặc dù chức vụ của ông tưởng như chẳng ăn nhập gì và tưởng như cũng chẳng có uy tín gì.

Thời đó cả huyện có chừng trăm cái ti vi. Thị trấn Lu Li có khoảng mươi cái nhưng người ta quí như vàng dễ gì xem chùa được. Cái máy chiếu phim chạy rè rè của đội Chiếu bóng làm rỏ nước giải thèm khát của biết bao người  mê coi cải lương mê coi hát và cả mê phim. Đồng thời nó còn tạo ra cơn sốt " thời thượng" và làn sóng a dua hùa vào tạo ra một dòng thác cuồn cuộn đổ xô về một phía. Mỗi rạp chiếu phim chiếu 3 suất . Suất nào suất nấy chật cứng người là người. Những chiếc ghế nguyện trong ngôi nhà thờ bỏ trống chật cứng. Người ta đứng nghẹt trên những lối đi. Vài cái quạt không đủ xua hơi người với oi bức.Mồ hôi chảy như tắm trên lưng trên mặt nhưng ai nấy đều vô cùng hài lòng với lão Tôn Ngộ Không múa gậy đả yêu tinh trong một Phim Tây Du Ký hoạt hình nhào lộn trên khung vải trắng tinh.

Làm Đội trưởng Đội Chiếu bóng lưu động nhưng thời đó uy danh của ông vang lừng bởi tiền của Đội chiếu bóng thu nhập cao nhất huyện. Báo cáo nào đại hội nào tổng kết nào sơ kết nào cũng chỉ nhắc đến đơn vị chiếu bóng. Ai nấy đều mơ màng con mình có ngày được đứng đằng sau cái máy chiếu phim chạy rè rè kia hết buổi chiếu tay nó đếm tiền không xuể thấy phát ham. Nhưng trước mắt nghe nói Đội đang cần một chị nấu bếp. Tin vừa mới loang ra đã thấy chị Huê vợ ông chủ tịch thị trấn khoe khi ngồi ăn bún ngoài chợ. Tui bữa nay làm chị nuôi cho Đội Chiếu bóng rồi.

Trưởng Phòng Giáo dục huyện bây giờ là con của ông chủ tịch thị trấn ngày đó. Ông Kiệm gửi gắm thầy Sáu cho trưởng phòng giáo dục còn gợi ý cả công việc phụ trách mảng phổ cập nữa. Sở dĩ ông Kiệm làm như vậy là vì thằng Liêm cháu nội của ông.

Ba năm trước thằng Liêm hung tợn vung thẳng nắm đấm vào mặt thầy chủ nhiệm chỉ vì thầy mắng nó mất dạy khi nó vênh vênh ngồi nhìn ra cửa sổ huýt sáo trong giờ giảng bài của thầy. Chuyện ầm ỉ lên vì cánh báo chí nhảy vào. Cho nên dù rất thế lực ông Kiệm cũng không thu xếp nổi. Thằng Liêm bị đuổi học.Tưởng sao. Học hành làm đéo gì ba cái mớ chữ thúi có gì mà học. Không đuổi ông cũng nghỉ. Nhưng đuổi thì ông nghỉ sướng hơn đỡ phải nghe " Bố già"  hát thánh ca. Thằng Liêm nói thế. Từ đó nó cầm đầu bọn thằng Cung thằng Lân thằng Phái hết đua xe thì đi xin đểu ở đoạn đường về Làng Âm.

Ông Kiệm nói thẳng với thầy Sáu tôi giúp thầy thầy giúp tôi vậy là huề. Thầy làm gì thì làm miễn thằng Liêm có cái bằng tốt nghiệp trung học cơ sở thì tôi bảo đảm không ai dụng đến sợi lông của thầy cho đến ngày thầy về hưu. Thầy Sáu mừng húm. Trước kỳ thi bổ túc thầy cung phụng cape thuốc lá lời ngon tiếng ngọt với thằng Liêm còn khổ hơn với bố đẻ.

Hôm thi thầy Sáu đến nhà thằng Liêm rất sớm chở nó đi ăn phở uống caphê rồi áp giải nó đến phòng thi luôn. Thằng Liêm cười cười nói nói   ăn uống ào ào thuốc ba số lấy cả gói tỉnh bơ. Nhưng trước giờ thi vài phút nó biến mất.

Hết phần I

More...

MÙA XUÂN

By Nguyễn Lâm Cúc

 


( Mượn tranh của họa sĩ LCĐ)

KIM YU-JONG

 

TỪ VŨ phóng dịch

- Ba ơi ba có nghĩ là...mùa xuân này thì...

Mỗi khi tôi gãi đầu gãi tai thử đề cập đến vụ đám cưới của tôi với con gái ông ấy (cũng phải nói thêm rằng tôi đã dư cái tuổi để bàn về chuyện này) thì y chang chục lần như một ông ta hỏi vặn lại tôi :

- Đồ vô dụng ! Trước khi nghĩ đến việc cưới hỏi thì cũng phải để nó lơn lớn một chút nữa chớ !

 Chuyện "để nó lơn lớn" ám chỉ Ái Xuân cô vợ tương lai của tôi.

Tính đến hôm nay cũng được ba năm và bẩy tháng rồi tôi thằng Đinh Thanh lé kim này đã phải cật lực lao động tại cái nông trại của ông ấy bố vợ tương lai tôi mà chẳng được lãnh một đồng xu cắc bạc nào. Ông bố vợ tương lai luôn luôn bảo rằng con gái ông ta chưa đủ khôn lớn . Cứ cái điệu này thì chẳng biết đến lúc nào thì Ái Xuân khôn lớn được như ông ấy nghĩ ?.

Nếu về những chuyện làm lụng thường nhật mà ông ấy trách móc tôi hay chuyện ăn uống (ông ấy thường bảo rằng tôi ăn nhiều qúa xá) những chuyện như loại này tôi không thiếu lý lẽ để trả đũa ông ấy; nhưng về chuyện khi ông bảo là Ái Xuân còn bé hay còn trẻ con thì tôi lại hoàn toàn bó tay chịu thua.

Mặt khác trong hợp đồng thật là sơ hở lớn của tôi sau khi ký xong tôi mới nhận ra được điều này thì đã qúa trễ. Lẽ ra phải ghi thật rõ rệt thời hạn trong tờ hợp đồng để ấn định rằng tôi sẽ được lấy con gái ông ấy sau ba năm lao động thì đàng này lại chỉ ghi rằng tôi sẽ được lấy con gái ông ấy lúc nào cô ta lớn.

Tuy nhiên cứ dần dà theo ngày tháng bất cứ ai cũng không tài nào lấy chuyện này làm một trò vui được vì biết đến lúc nào là lúc con gái ông ấy lớn đây ?. Tôi thì cứ nghĩ rằng theo ngày tháng thì con người phải lớn chứ đâu biết được rằng lại có cái loại người cứ níu lấy mặt đất thay vì lớn theo chiều cao thì lại lớn theo chiều ngang mới chết . Tôi đã đặt tin tưởng vào ông bố vợ tương lai của tôi vì tưởng rằng đúng lúc là ông ta sẽ lo liệu việc cưới hỏi của chúng tôi nên đã cật lực lao động cho ông lao động không kể ngày giờ lao động hệt như một con trâu.

 Theo tôi nghĩ thì khi nhìn được những điều này lẽ ra ông đã phải tự động đề nghị với tôi :- Thanh này trông thấy mày lao động vất vả điều này chứng tỏ rằng mày có rất nhiều thiện chí thôi bây giờ tao lo liệu việc cưới hỏi cho mày.

More...

BÀ BÓP VÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

By Nguyễn Lâm Cúc




( Mẹ Đặng Thị Kim)
Ghi chép Nguyễn Lâm Cúc


Thấy chị Bảy xuýt xoa lâu hè lâu hè tôi phì cười. Em cũng chẳng bận gì trong sáng hôm nay chị cứ thong thả người ta đã đem hồ sơ đi đóng dấu rồi chắc cũng xong ngay bây giờ.

            Chị Bảy cười nói ờ ờ nhưng một chút sau lại nhấp nhỏm như đang ngồi trên chảo nóng. Đi đóng dấu thôi mà cũng lâu quá hè nảy giờ e cô thư ký đi đã 20 phút rồi?

            Chị Bảy muốn vay tiền để mua một cái laptop cho thằng con sắp tốt nghiệp đại học. Cậu sinh viên cần máy để xử dụng những phần mềm cần thiết làm đồ án tốt nghiệp. Chị Bảy không biết đi xe máy cũng không biết chốn công đường là nơi nao nên đã nhờ tôi chở đi giúp. Chị sợ phiền tôi quá nhiều có thể mất cả buổi sáng làm việc nên nôn nao. Tôi an ủi chị sáng nay em rảnh chị à chị đừng lăn tan nữa nghe. Xong việc em chở chị đi ăn chả nướng rồi hãy về.

            Không cô à để bữa khác đi nói thiệt với cô chiều qua tôi bẻ bắp ngoài vườn đã lượm vào nhà gần hết nhưng vẫn còn khoảng một bao ở gần chỗ nghĩa từ chưa lượm xong. Sáng nay khi trèo lên xe đi tôi ngoảnh lại thấy bà Bóp rẽ vào ngỏ. E bà tưởng tôi đã xong lượm hết bắp rồi cũng nên.

            Thì ra chị Bảy lo lắng chuyện khác. Tôi không biết nói gì nhớ lại mấy hôm trước trời đổ mưa đột ngột chị Bảy lật đật kéo tấm bạt phơi tiêu vào nhà một dúm tiêu sánh đổ ra đất. Ngưng mưa chị  Bảy ngồi cặm cụi lượm từng hạt. Tôi chợt hiểu nỗi lòng chị.

            Tôi với chị Bảy về đến nhà thì cũng gần hết buổi sáng theo chị ra vườn để giúp chị gom nhanh chỗ bắp chiều hôm trước chưa kịp làm xong. Mặt đất trống trơn chị Bảy nhìn tôi buồn bã.  Hai chị em quay vào chị nói có mướp xanh vừa ăn em lấy mấy quả về xào. Tôi và chị đi tắt về bên giếng nơi có giàn mướp đầy hoa vàng. Ui! Bắp kìa chị! Bên giếng bắp đã được ai đó đem vào bỏ thành đống dưới tàn cây mít. Nhìn lại thấy có cả mấy vỏ chai nhựa một chiếc dép sứt quai tôi và chị Bảy cùng hiểu rằng bà Bóp đã làm.

            Quê bà Bóp ở Quảng Bình chẳng ai biết tên thật của bà gọi bà Bóp vì bà dùng một cái kèn nhựa bóp ét ét để thay cho lời rao. Thời thiếu nữ có một chàng thanh niên đã yêu thương  cô gái nhỏ bé nơi một làng quê nghèo gia đình đã tới lễ hỏi nhưng chàng trai đi tập kết ra Bắc. Bà Bóp phụng dưỡng cha mẹ chồng đến khi cha mẹ qua đời thì xin đi làm chị nuôi ở một đơn vị Dân công. Sau năm 1975 người chồng chưa cưới bây giờ đã là một quan to vợ con đàng hoàng gửi tin về   có ý định tìm bà để phụng dưỡng như một người chị người bạn. Nghe được tin đó bà Bóp bỏ xứ lưu lạc đến vùng này sống tá túc trong gia đình một chủ mua bán ve chai. Bà Bóp với một chiếc gánh hàng ngày lội khắp thôn xóm lượm mua những thứ người ta vất đi. Bà lặng lẽ bước vào vườn tìm nhặt mấy chiếc lon mẩu nhựa mẩu sắt tấm giấy bìa...Có người thì bà trả tiền món hàng thường chỉ một hai ngàn nhiều lắm là năm ngàn đồng. Không có người bà Bóp gom lại một chỗ rồi bỏ đi hôm sau quay lại trả tiền mới lấy.

            Mẹ Việt Nam Anh Hùng Đặng Thị Kim quê ở Quảng Ngãi. Chồng Mẹ hy sinh thời Pháp. Con trai duy nhất hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Mẹ sống một mình trong ngôi nhà tình nghĩa cất lên trên khuôn viên của đứa cháu gọi Mẹ bằng cô rụôt. Năm nay Mẹ Kim đã gần 90 tuổi.
  Bà Bóp thường ghé Mẹ Kim chơi có lúc mang cho Mẹ Kim lá trầu quả cau có khi ghé vào sà ra nền gạch ngủ một giấc tỉnh dậy lại gồng gánh tìm cái ăn. Mẹ Kim biết bà Bóp thích uống nước chè mẹ luôn có ấm chè để sẵn bà Bóp ghé vào đã thấy một ly nước đầy thơm hôi hổi. Bà Bóp vừa uống vừa kể chuyện bữa ní họ cúng đình họ đem con heo quay thiệt to. Đông lắm! Hồi mới giải phóng có một ông quan cách mạng cấm dân không cho cúng đình cắm bảng không ai tới. Nghe nói ông ta  mới 52 tuổi bệnh chết queo!

            Té mặt mày trầy sạch trơn! Từ thưở cha sanh mẹ đẻ đến giờ mới biết cao huyết áp! Sao lạ dậy các ông? Từ hồi nào tới giờ tui có bệnh đao gì đâu? Vậy mà giờ sanh ra cái chứng lên máu mới dị chứ? Tội nghiệp con cháu nó cứ theo hỏi hoài cô ăn cái gì để con mua. Mình già rồi ăn uống bao nhiêu mà phiền phức để cho nó lo cho mấy đứa con ăn học. Mẹ Kim nói.

            Chiêng trống ở đâu khiêng về đến mấy bộ. Họ mời cả đội lân Long Khánh xuống nữa. Người ta đi coi cúng đình đông dữ tợn. Bà Bóp nói.

            Mẹ Kim nói sáng nay con cháu lại bưng sang tô cháo hầm thịt. Tui nói cô không eng. Đã nói không eng mà cứ hết thức này thì nấu thức khác. Trưa mà bưng nữa là mấy người bưng về mà eng đó nghe. Mình phải nói dậy chứ không tụi nó cứ lo cho mình ai lo cho con nó?

            Mẹ Kim nói tiếng Quảng Ngãi đặc sệt. Bà Bóp nói tiếng Quảng Bình đặc sệt. Mỗi người nói một chuyện ai nói nấy nghe. Vậy mà họ lại trò chuyện cùng nhau cả buổi.

            Ngày nào bà Bóp không ghé mẹ Kim nhắc e cái chân đau lê không nổi nữa sao mà vắng vẻ vậy cà?...

            Họ những người từng là phía sau vững chải của một thời.

More...

HOA MĂNG CỤT

By Nguyễn Lâm Cúc

 

Nguyễn Lâm Cúc


Bạn đã bao giờ mừng rỡ khi bắt gặp một loài hoa nở chưa? Nhất là với một cây trồng mà ngày nào bạn cũng săm soi nghiêng ngó hí hửng chào đón từng chiếc lá nẩy mầm?

Lần đầu tiên tôi  nhìn thấy hoa măng cụt là vào khoảng tầm này của năm 2007. Buổi đó tiếng ve rền rỉ không gian của mảnh vườn đầy cỏ dại. Có lẽ con ve dát mỏng cuộc đời mình thành tiếng kêu cho đến khi trống rỗng. Nếu không như thế thì làm sao mà cứ sau mỗi mùa ve trên cành cây còn lại những chiếc áo mỏng tang từng chứa đựng những tiếng hát rền rền một nhịp kia?

Thơ thẩn trong vườn đầu óc nghĩ ngợi miên man như vậy mắt tôi chợt bừng sáng lên chạm phải một đóa hoa trên cây măng cụt xanh um được trồng cạnh một dòng suối nhỏ. Mùa mưa tôi vẫn thường ra ngồi ven suối ngắm bầy cá lòng tong nhởn nhơ bơi lội. Có lúc đưa tay có thể vớt được những con cá lóc nhỏ trong một bầy lóc con khiến cá mẹ quẫy mình hăm dọa trong đám cỏ mọc dày ven suối. Mùa này   suối không chảy. Dòng nước đỏ ngầu bên trên đặc sánh một lớp váng phèn. Bên kia suối hàng măng cụt có 4 cây. Tôi thường  ra đứng dưới gốc măng cụt alo cho một người bạn và thầm thì biết bao vui buồn.

Trời. Hoa măng cụt nhìn ngộ chết đi được chính giữa một nõn xanh bằng đầu ngón tay tròn xoe được bọc bởi năm cánh hoa toẽ ra như chiếc áo. Tôi sướng quá bèn hét ầm ỉ " Nguyên ơi! Ra mà coi hoa măng cụt này!". Nguyên ào ào chạy ra nó liếc xéo một cái không biết vào đâu rồi buông thỏng câu con thấy rồi xong quay đít đi thẳng. Tôi giận Nguyên mất ba mươi giây sau đó nghĩ lại giận nó thì quả là phí. Chấp làm gì cái thằng mặc quần đùi tiếp bạn gái ấy.Thật đấy! Có cả bọn trẻ trong xóm làm chứng nữa kìa. Năm đó Nguyên học lớp 12 cao chòng ngòng. Buổi chiều  nó cùng bọn trẻ trong xóm chơi bá banh trong vườn nhà. Trên đường bỗng thấp thoáng bóng một thiếu nữ e ấp. Bọn trẻ ngưng đá banh nhìn ra cười rần rần   trong khi  Nguyên mang quần đùi chạy tòng teng ra đứng nói chiện.

Thế nhưng cái mà tôi nhìn và hằng tin ấy súôt cả một năm đó không phải là hoa măng cụt. mà là quả non trời ạ. Vậy mà súôt một năm tôi  loan tin thất thiệt đến khắp nơi. Người nghe tôi sửng sờ nhất là bạn Kim Oanh. Thì ra ngay cả tận mắt chứng kiến mặc dù đã theo dõi sát sao và cho rằng mình không bỏ sót điều gì tôi vẫn cứ hồ đồ như thường. Hoa măng cụt không đẹp nhưng đó vẫn là một đóa hoa hình dáng như muôn ngàn đóa hoa khác. Không " ngộ" như tôi từng thấy và nghĩ. (Cũng như sau này thấy Sơn của tôi suốt ngày chải chuốt lúc nào cũng soi gương vuốt tóc tôi lại thầm ao ước giá Sơn hồn nhiên như Nguyên thì hay biết bao).

Hoa măng cụt lại nở. Vườn hoang vu hơn trước. Cỏ dại mọc dày hơn. Từ lâu nơi đây không còn vang lên những tiếng thì thầm trò chuyện qua alo nữa. Con người hay thay đổi lắm. Cây cỏ thì đến hẹn lại về một mùa hoa. Tôi thẩn thờ tiếc về  mùa hoa cũ mặc dù tôi ngớ ngẩn tin vào một điều không thật.

More...