ĐÔI DÉP MÀU THIÊN THANH

By Nguyễn Lâm Cúc

 



Nguyễn Lâm Cúc


         Anh từng là một sĩ quan. Tiếng Anh dù có chút vất vả nhưng lúc cần thiết anh cũng làm người nghe hiểu được điều muốn nói. Đã gần 30 năm người quen biết chỉ còn thấy anh là một gã nhà quê quần áo nhếch nhác miệng dẻo nhẹo chuyên bán đủ thứ hằm bà lằng ở chợ Long Mây.

Với chiếc honda cà khổ khói xịt như lò nung xi măng Anh chở ra chợ mớ rau lang vài ký măng tre chục trứng gà. Khi khác là tạ đậu xanh nửa bao gạo. Anh nói gạo nhà anh là gạo sạch bà con mua ăn thử vài tháng sẽ thấy không bổ bề ngang cũng bổ dọc. Vú sữa nhà anh cũng chính hiệu vú sữa không thuốc trừ sâu bằng chứng là sâu vẫn sống chung với quả. Cái duyên mua bán của anh đến chị Tám Thảo cũng phải ghen dù chị bán đắt hàng có tiếng khắp mấy chợ lân cận. Nhờ thế anh bán được giá tất cả những gì do chính bàn tay anh làm ra. Sáng nay sau khi bán xong mấy chục trứng gà anh cười toe với chị hàng rau. Miệng nói em gói cho anh hai ngàn cải bẹ một ngàn giá. Chị mày thích chanh mày bỏ vài quả vào đó nữa. Tay anh nhanh nhẹn nhặt hết đống lá bắp cải già cho vào túi miệng lại nói anh dọn rác giúp em cho hàng rau của em thêm bắt mắt. Cô bán nói thôi không cần ông anh nịnh mai cứ ghé lại mà lấy mớ rau úa về cho thỏ ăn anh ạ.

Chưa về tới nhà miệng anh đã oang oang. Hôm nay bán trứng được bảy mốt ngàn. Anh mua mấy thứ hết ba chục. Một ngàn mua cho em bịt chè. Còn bốn chục em à.

Thêm bốn chục nữa là mình có tám trăm phải không anh? Chín ngày nữa đến lượt thằng Hiếu về lấy tiền còn thiếu bốn trăm nữa mới đủ triệu hai giờ đến đó bán gì anh hè?

Em đừng lo. Anh cười sảng khoái tiếng cười làm bầy két đang ăn bắp đầu ngỏ giật mình bay lên. Bây giờ cứ ăn chè đi đã. -Anh đi lấy chén đổ bịt chè ra cho vợ.

Chị không biết chữ nhưng lại đọc được mọi ngôn ngữ của cây của con vật mà chị trồng hoặc nuôi. Nhìn đám lúa xanh mởn nhưng chị bảo lúa bệnh rồi cần bơm ngay vài bình thuốc trừ đạo ôn. Anh cun cút làm theo ngay. Hôm qua chị lại nói phải xịt thuốc cho vườn điều bọ xít muỗi hút cành non mới nhú. Anh chịu tuyệt không thấy gì khác lạ ở cây nhưng anh biết chắc chị nói đúng. Đã có lần anh chần chờ hậu quả là mất trắng vụ đậu xanh do rầy nâu phủ con anh thiếu tiền đóng học phí mất một học kỳ. Đến giờ anh vẫn thấy cay mắt khi nhớ lại kỷ niệm vì thiếu tiền bé Liễu buổi sáng đến giảng đường với chiếc bụng cồn cào từ đêm trước. Hôm đó do đói quá bé Liễu mua một củ khoai nướng đứa bạn lao ngang qua miệng nói cho miếng tay bẻ củ khoai. Củ khoai nướng mới tám rưởi vuột hết ruột vào tay người bẻ. Bé Liễu cầm mẩu vỏ chưng hửng bất chợt hai dòng nước mắt chảy dài.

Nghe con kể anh ân hận vì đã từng tiêu 3 ngàn vào ly càphê buổi sáng. Từ đó anh chẳng tiêu bất cứ xu nào cho mình nữa. Gom hết các thứ nuôi trồng. Năm nào nhà anh cũng phải vay thêm chục triệu mới đủ cho cả bốn con ăn học. Dẫu thế anh và chị cũng quyết làm chiếc thuyền đưa các con đến bến tri thức. Nhiều năm rồi chị chưa từng biết đến một chiếc áo mới. Ngay cả dép cũng lượm lặt đâu đó chiếc đực chiếc cái. Mà cũng chẳng cần đến dép chị suốt ngày dưới ruộng trên rẫy. Đôi dép cũng chỉ mang lúc rửa chân đi ngủ thế. Đã thế mang gì mà chẳng được. Thế nhưng có lần chị buộc miệng nói chị thích đôi dép màu thiên thanh.

Hôm nay anh đi chợ về hớn hở nói cùng chị em à anh có mua quà cho em.

-Quà gì? Anh lấy tiền đâu mua? Tiền cho bé Liễu đóng học phí còn thiếu sáu trăm nữa đó nhưng chỉ còn bốn ngày là phải gửi rồi anh mà tiêu một đồng trong số  tiền bán lứa thỏ này là không được đâu.

-Đây. Tiền bán thỏ có phải chín trăm hai không? Anh đưa em chín trăm ba luôn đó.

-Ở đâu anh có tiền vậy? Chị ngạc nhiên.

-Anh vênh mặt lên nói thì anh kiếm chứ đâu? Coi thử có vừa không? Anh vừa nói vừa mở bao giấy nilon lôi ra một đôi dép cẩn thận mang vào chân chị-  Anh mua cho em dôi dép nhựa cao cấp. Nhựa mềm thiệt mềm. Đi thử có đau chân không?

Chị xỏ bàn chân nứt nẻ vào đôi dép màu xanh bước tới bước lui vài bước rồi gật gù.- Dép êm thiệt. Nhưng nói cho em biết tiền đâu anh có vậy hả? Không nói em cất dép  không đi đâu đó.

- Tiền anh bán ve chai chứ đâu. Nhìn coi đống chai nhựa hầm bà lằng anh lượm góp mấy năm nay...

Chị ngó theo bàn tay anh chỉ chỗ góc hè nơi có cái bao tải đựng những mẩu sắt bia lon dép đứt giấy bìa cứng anh tom góp mỗi khi thấy đâu đó  vương vãi giờ không còn nữa. Mắt chị tràn ra giọt lệ nóng bỏng đầy hạnh phúc.  

More...

VÒNG THÒNG LỌNG TRÊN SÔNG

By Nguyễn Lâm Cúc


( Một kiểu vòng thòng lọng hữu hình)

Nguyễn Lâm Cúc

Tôi yêu dòng sông La Ngà không vì dòng sông đã tạo nên một thác Mai thác Kreo nhấp nhô đá tảng chìm nổi phơi bày muôn ngàn vẻ kỳ thú nằm giữa những ngọn sóng tung bọt trắng ngần như vương miện kim cương trên những mái đầu tuyệt đẹp của thiên nhiên. Trong khung cảnh như thế không gian phảng phất mùi hoa cỏ thơm thơm và  tiếng rì rầm không ngớt của thác của gió. Nhưng nếu chỉ thế tình yêu ấy không đau mà chưa đau thì chưa thành máu thịt.

Tôi đã nếm niềm đau cùng sông tự thuở tóc loe nghoe đỏ quạch như râu ngô. Một ngày tôi tụt xuống bờ sông để bẻ một măng tre nõn. Bờ sông thẳng đứng và trơn như nhớt tôi trợt chân lao ào may sao tay níu được một cành tre nhưng đầu gối nện thẳng vào một chiếc gai tre to bằng đầu đũa dài nửa tấc nhọn hoắt. Chiếc gai cắm sâu vào phần thịt trên đầu gối. Lôi chiếc gai tre ra bằng đôi tay run lẫy bẩy đau chảy nước mắt. Bên dưới tôi chừng hai tấc mặt nước sông cuồn cuộn ầm ào phô ra vẻ đẹp khỏe khoắn kiêu hãnh và đầy thách thức của một dòng sông xanh.

Có một lần tôi cắm câu ven sông một chú cá lóc bông cắn mồi. Chú cá to bằng bắp vế quẫy ầm ầm và khỏe như trai tơ. Tôi với chú cá quần nhau đến nửa ngày khi chú cá đầu hàng tôi cũng thở luôn bằng tai mình mẩy trầy trụa vì cỏ cứa gai cào do phải bấu víu mới níu giữ được cần câu khỏi tuột xuống nước. Cá lóc bông lên khỏi mặt nước là chết ngay. Tôi cởi áo bọc con cá lại vác chạy về nhà. Mẹ tôi khen "chó hớp nhằm ruồi"! Tôi sướng cả mấy năm. Bữa cơm hôm đó tôi được một khoanh cá to tràn cả miệng bát vàng au thơm nức mùi nghệ.

Tôi đắm đuối với dòng sông còn vì nhiều lẽ khác. Tôi thấy mình nhỏ bé mỏng manh và thấy thiên nhiên là cả một sự hùng vĩ trường tồn. Nhưng...

Mấy năm gần đây  thấy chỗ nào trên sông người ta cũng đặt ống thuồng luồng rồi nổ máy ầm ầm hút cát. Lòng sông vì thế cứ sụt hẫng giữa dòng gây ra những chỗ sạt lở xoáy sâu hoặc khoét hõm vào mặt đất. Có lúc dòng sông chẳng có giọt nước nào bọn trẻ chơi đá banh ngay giữa dòng chảy  dù vẫn đang mùa mưa. Lại có khi chẳng mưa gió gì mà trên sông nước bỗng réo chạy ùng ục như rùng mình quặn thắt từ một cơn đau nào đó. Lại có năm dòng sông chẳng xanh tràn vui vẻ khi mưa lớn chẳng hao gầy khi nắng to mà cứ lừ đừ uốn lượn như người ốm nặng. Người ta đã làm tắt nghẹn dòng chảy đâu đó trên đầu nguồn để làm công trình này công trình nọ. Họ đã thắt một sợi lòng thọng vô hình nào đó trên cổ dòng sông những cơn co thắt nghẹt thở oằn oại đã biểu hiện trên cơ thể dòng sông xanh xao phô ra những chỗ nhọc nhằn vì chỉ còn trơ đám bùn lồi đỏ quạch. Dòng sông có tuổi hàng nghìn năm vẫn còn là con gái trong tuổi thơ của tôi  thì nay cái chết đối với sông chỉ còn là vấn đề thời gian.


Tuy thế tình yêu của tôi không vơi đi tẹo nào hôm nay tôi bất ngờ khám phá ra dòng sông thân thương của tôi còn chứa đựng trong lòng nó một bí mật. Bí mật này sông đã thổ lộ cùng tôi từ ba mươi năm về trước mà tôi đã vô tình.

Khi tôi còn bé thi thoảng mẹ tôi có mua về nhà vài khoanh cá từ một con cá rất to bởi một khoanh thôi cũng đã gần hai ký. Vảy cá màu gần như đen óng từng chiếc vảy to bằng đồng tiền xu cứng mỏng thịt cá đỏ au những cái xương bụng vừa cong dài và to như que đan. Mẹ tôi kho cá với gừng và nước mắm cách kho nấu đơn giản của dân nông   thế mà cá thơm lừng béo ngậy vị ngọt đậm đà. Chúng tôi hỏi cá gì mẹ nói cá bò. Tôi thắc mắc sao gọi cá bò hả mẹ. Thì chúng mày không thấy cá ăn ngon như thịt bò hay sao? Tôi hài lòng với câu trả lời của mẹ.

Không phải năm nào cũng mua được thịt cá bò hay lúc nào trên chợ cũng có bán loài cá này bởi cá không có trên ao hồ mà sống ở trên sông. Hồi đó có một làng chài chuyên lưới cá trên sông La Ngà vào một thời điểm nào đó con cá kém may mắn đã đi vào lưới giăng chứ tuyệt nhiên chưa thấy loài cá này ăn mồi câu bao giờ.

Trong vòng dăm năm trở lại đây tôi thường hay thấy con cá này trên chợ cá báy tám cân cũng có cá hai ba cân cũng có cá vài lạng cũng có và cả những con cá mới chỉ to bằng ngón chân. Thường thì người ta chỉ mua cá to những con cá nhỏ vất qua vật lại và cuối cùng cân bán làm thức ăn cho heo.

Hôm qua tôi lại thấy con cá xuất hiện ở chợ Nam Chính một chợ quê bầy cá con chết cong queo nằm dúm dó trên tấm bao tải. Hôm nay tôi đi tìm qua vài chợ và cuối cùng đã gặp khoảng 100 con đã ươn màu cá từ đen sẩm chuyển sang bợt bạt. Ôi   toàn cá sơ sinh!

Cá Hô ở sông miền Đông?

Tôi gõ Google để tìm cá nước ngọt. Theo trang web caucavietnam.com và theo báo Tuổi Trẻ thì cá con cá Bò của tôi nhỏ hơn con cá Hô nhưng lại lớn hơn con cá Ét. Cá  Hô có thể to vài trăm cân cá Ét lớn nhất chỉ hai cân con cá Bò do mẹ tôi gọi to mười lăm hai mươi cân là cá gì? Khi mà mình vẩy đuôi đầu màu sắc chẳng khác gì một con cá Hô?

Cá Hô và cá Ét chỉ có ở sông Mêkông và một số con sông khác là sông nhánh của Mêkông. Và thỉnh thoảng mới bắt được cá Hô ở hạ lưu sông MêKông nhưng cũng chỉ là cá nhỏ. Hai loài cá này đều là cá quí hiềm nằm trong sách đỏ Việt Nam.

Ở Campuchia loài cá này được bảo vệ nghiêm ngặt từ năm 1987. Tìm mãi mà không thấy tài liệu nào nói về con cá Hô cá Ét  ở sông nước miền Đông nhất là trên sông La Ngà.

Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh chảy qua Bình Thuận đổ vào sông Đồng Nai rồi ra biển. Thế cá hô hay cá ét đang có mặt tại sông này?

Nhưng dù là loài cá gì thì con cá quí này sẽ biến mất trong vòng vài năm nữa thôi. Sông La Ngà đã không thể nào chở che cho loài cá này được khi mà người ta lao vào cuộc mưu sinh hay lao vào tìm kiếm sự giàu sang một cách quyết liệt bất chấp thì mẹ thiên nhiên là nơi gánh chịu gần như tất cả mọi tổn thương.

Chục năm về trước hai ba năm hay một năm có một đôi lần người chài lưới bắt được cá Bò to trên sông vì con cá này mắc lưới. Bây giờ như tại ngả ba sông nơi dòng La Ngà tiếp giáp Lâm Đồng Đồng Nai và Bình Thuận cửa sông chục năm trước luôn tràn đầy bây giờ một nhánh sông đã teo tóp ngoắc ngoải. Trên nhánh sông đó người dân làm một cái được gọi là "bửng". Bửng được chăng từ bên này sang bên kia với những tấm lưới muỗi chui không lọt treo vào những cây cọc vững chắc. Chính giữa bửng người ta làm một cửa ngỏ thong lòng mọi loài thủy sản muốn đi qua khúc sông này chỉ duy nhất là phải vào "cửa tử" kia. Với cỡ lưới ngăn muỗi thì cả trứng cá cũng diệt vong đừng nói chi những con cá Bò to bằng ngón tay ngón chân hay những chú lóc mới còn bú mẹ.

Tất cả chí mén loài nhà thủy đều được vớt tất tần tật và ném vào cơn khát khao giàu có của con người. Mấy ngày qua cơn bão số 11 lại gây tai họa cho miền Trung hàng trăm người chết vì lũ. Tôi cứ hoài nghi con người đang thành công trong việc làm giảm bớt sức mạnh tàn phá của thiên tai hay tai họa từ thiên tai còn có sự góp mặt tạo thêm một phần hung hãn nữa từ bàn tay của con người khi họ can thiệp thô bạo vào kiến tạo của thiên nhiên?

 

More...

CHỈ CÒN LÀ KÝ ỨC

By Nguyễn Lâm Cúc

 
( Một cây đa đại thụ có tuổi thọ hàng trăm năm vừa bị bứng khỏi rừng về chôn trong thành thị)

Nguyễn Lâm Cúc

Nhìn bé "bằng lăng" đứng khép nép với những chiếc lá đỏ hoe  sắp nhỏ xuống mặt đất những giọt đỏ quạch buồn bả và cái dáng côi cút  bên hè một ngôi nhà lòng tôi rưng rưng nỗi nhớ về một cánh rừng bằng lăng hùng tráng còn được gọi là rừng khộp.

 Nhiều người Việt Nam từng biết rằng vào mùa này cái thời điểm thu đang dung dằng từ biệt và mùa đông vừa mới ngấp nghé nơi chân trời thì trên những cánh rừng nhiệt đới miền Đông của nước ta   từng có vùng lá đỏ đẹp không thua kém bất kỳ cánh rừng nào. Trong đó có cánh rừng bằng lăng.

            Vào thập niên 70 của thế kỷ trước ( nói nghe có vẻ lâu lắc lơ như vậy nhưng thật ra thời gian mới chỉ bằng một cậu bé từ sinh ra và vừa vào ngưỡng cửa cuộc cuộc đời ở tuổi ba mươi). Vào một ngày của mùa này tôi và vài người nữa đã lang thang ở cánh rừng phía Đông của dòng sông Đồng Nai. Chúng tôi hăm hở băng qua nhiều cánh rừng cốt để tìm một rừng tre lồ ồ nguyên sinh. Có lúc chúng tôi đi trên những lối mòn có lúc cứ nhìn mặt trời rồi nhắm hướng tây mà cắt. Hết một cánh rừng là trảng cỏ xanh non màu xanh ngọt mướt với sức sống ngồn ngộn trên những khu đầm lầy. Hết đầm  tiếp giáp một cánh rừng khác.  Bất ngờ chúng tôi lọt vào một cánh rừng bằng lăng bạt ngàn. Chao ơi! Bừng bừng một trời lá đỏ! Nhìn lên không gian như cháy sáng bởi ngọn lửa từ sắc hừng của lá thắm vừa dịu dàng vừa nồng nàn và  vô cùng miên man.

            Chúng tôi rạo rực bước lang thang trong cánh rừng bằng lăng mùa lá rụng chẳng còn ai chú ý đến đám vắt búng ngoe nguẩy trong lớp lá mục có lúc chúng cắn no nơi bắp chân rồi lăn cái mình đã  tròn căng bóng lưỡng rớt xuống mặt lá chết. Bởi những cây bằng lăng thẳng vút to hai người choàng tay không hết hoặc nhỏ hơn một chút thân sáng trắng vươn những cánh tay khỏe khoắn như muốn chống đỡ bầu trời xanh nhìn thật mê đắm. Bên trên cánh rừng những khoảng sáng hệt như các cánh cửa mở vào một lối thiên thai nào đó. Thật lạ bên dưới tán rừng bằng lăng rất thoáng chỉ một lớp cỏ mọc thấp chứ không chằn chịt cây non như loại rừng khác. Vì vậy những cơn gió bay qua lớp lớp lá đỏ chòng chành rời cành bay lảo đảo rồi nhẹ nhàng đậu nhẹ xuống mặt đất. Rừng bằng lăng đã hớp hồn chúng tôi.

Về sau tôi còn biết rằng trong số những cây bằng lăng quí giá của cánh rừng nọ có những thân là bằng lăng bông lau gỗ trắng vân hồng thịt mịn đẹp tuyệt vời! Ngày nay những miếng gỗ bằng lăng bông lau có đường kính từ nửa mét trở lên chỉ có mặt trong những bộ đồ gỗ ở những gia đình lắm tiền nhiều của. Nhưng lúc đó tất cả chúng tôi chỉ lo ngắm lá đỏ đang cháy rực trên bầu trời lòng trào dâng một niềm tự hào khôn tả về quê hương đất nước. 


Vào những năm đầu thập niên 80 tôi thường xuyên qua lại trên con đường mòn từ ngả ba Lăng Minh qua Sông Rây quẹo về Bàu Lâm xuôi xuống Hòa Bình Bà Tô gần đến Bà Rịa- Vũng Tàu.  (Ngày nay con đường này  có đoạn trở thành đường tỉnh lộ đường quốc lộ đẹp nhất nước). Nhưng khi đó đoạn từ Sông Rây đến Bàu Lâm toàn đi qua rừng già. Con đường như một sợi chỉ mỏng manh đỏ ngầu bò len lỏi giữa những cánh rừng nguyên sinh trùng trùng. Nhưng những cánh rừng ấy long lở từng giờ. Máy ủi máy cưa máy cày gầm rú ầm ầm trong cơn khát khao đốt phá. Khói đốt rừng bốc lên nghi ngút mù trời. Những cây gỗ quí như lim cẩm lai gõ đỏ bằng lăng trai...nếu may mắn thì theo xe buôn gỗ đi muôn nơi nhưng không ít bị vứt vào ngọn lửa đốt rừng hối hả. Còn những gốc mai hàng trăm năm tuổi thì gần như chẳng ai đoái hoài gì đến chúng ngậm ngùi thành tro trong lặng lẽ cùng trăm ngàn loài cây rừng khác.

Người ta đốt người ta cày xới người ta đốn hạ những cánh rừng nguyên sinh hấp tấp hối hả mau mau. Những cánh rừng thiên nhiên mất hàng trăm năm thậm chí hàng ngàn năm kiến tạo chỉ trong nháy mắt cuộc đời đã bay hơi như chưa từng hiện diện bao giờ. Mỗi ngày hàng trăm héc ta rừng đổ nghiêng bật gốc rồi cháy rụi. Sức tàn phá của con người so với bão táp của trời đất thì kinh khủng hơn gấp ngàn lần. Tốc độ đó đã làm cho muôn thú trong rừng không lối thoát phần lớn chúng bị dồn vào con đường tuyệt chủng vì mất nhà ở mất nơi kiếm sống như bầy voi chẳng hạn.

Tại những cánh rừng huyện Xuyên Mộc vào những năm 1983- 1984 từng có voi  sa vào hố bom ngay trên đất mới phá rừng. Ban ngày hàng trăm người tụ tập đến gần để xem con voi mắc nạn có người còn mang đến hàng vác mía từ nông trường Sông Rây cho chúng ăn  mặc dù bầy voi lẩn quẩn đâu đó vì không nỡ bỏ con voi kém may mắn chúng cất tiếng hú gọi đầy phẩn uất và bi thương. Cuối cùng người ta cũng tìm được cách giúp con voi lên khỏi hố bom. Cả bầy voi đã phủ phục bái tạ trước khi kéo nhau bỏ đi. Với tôi đàn voi đó có lẽ chính là đàn voi cuối cùng về sau đã tụ tập về khu rừng núi Ông- Tánh Linh- Bình Thuận bởi vì cả một vùng miền tiếp giáp từ Bình Châu Xuyên Mộc Xuân Lộc Hàm Tân và Tánh Linh chạy liền đến dưới chân  những dãy Trường Sơn hùng vĩ ngăn chia Bình Thuận với Tây Nguyên ở cuối phía Nam. Bây giờ rừng rúm ró co cụm lên tận trên đỉnh núi cáo và ngay cả trên núi cao như những ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn đã trọc lóc. Từ dưới nhìn lên núi cứ đỏ loang như máu chảy chứ không xanh mịt mùng như mấy chục năm trước. Và những cánh rừng nổi tiếng như Láng Lim Láng Khộp Láng Sao Láng Bìn Lin Láng Mai...( mỗi láng rừng toàn một loài cây láng lim toàn gỗ lim láng cẩm lai toàn cẩm lai) nằm chung quanh khu Biển Lạc Núi Ông nay đã trong còn chút dấu vết. Chúng đã biến mất khỏi thế gian!

Những cánh rừng mà tôi nhắc đến giờ đã là đất của những nông trường những công ty cao su trong số đó phần lớn đã cổ phần hóa tư nhân bởi vì nhiều đơn vị quốc doanh từng mần ăn thua lỗ.

Tôi có nhiều chuyến lang thang bên dưới những cánh rừng cao su trong đó có chuyến đi tìm một huyền thoại đã chết huyền thoại về một con voi trắng.
 

Trong nhân gian nhiều vùng ở Tây Nguyên và miền Đông từng đồn thổi rằng vua Bảo Đại sau khi thoái vị về sống ở Đà Lạt từng nuôi một con voi trắng. Khi gia đình ông rời Việt Nam đã thả con voi trắng về rừng và trên cổ nó có mang vật kỷ niệm đó là một sợi xích bằng vàng? Chuyện hư thực ra sao không biết nhưng người dân sống ở gần đồi Bảo Đại ngọn đồi này nằm ở  phía tây thị trấn Đức Tài huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận nơi tiếp giáp với những cánh rừng của ba tỉnh Đồng Nai Lâm Đồng Bình Thuận  Ngọn đồi trước đó được đặt tên là đồi Con Sò những năm 1952-1953 quốc trưởng Bảo Đại đến đây săn bắn và nghỉ lại trên đỉnh đồi từ đó người dân vùng này gọi tên đồi thành đồi Bảo Đại cho đến ngày nay. Khi rừng còn vây bọc bình nguyên chung quanh ngọn đồi nhiều người dân nơi này chỉ vào những  dấu chân voi về làng rồi thì thầm rằng dấu chân ấy chính là của "ngài voi trắng".

Huyền thoại con voi trắng từng khoác lên mình những cánh rừng nhiệt đới miền Đông rừng giáp ranh Tây Nguyên một vẻ đẹp lãng mạn bí ẩn. Nhưng nay rừng chỉ còn trong ký ức con voi trắng cũng chẳng có nơi nào trú ẩn câu chuyện chết trong nối tiếc và đau đớn.

Tôi không phải là một nhà chiến lược càng không am hiểu về kinh tế chẳng biết gì về khoa học. Những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng mất rừng nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh như khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

More...

MÓN HỔ LỐN!

By Nguyễn Lâm Cúc

 


( Ảnh coppy trên mạng)

Nguyễn Lâm Cúc

Mỗi khi thấy bà trong đầu tôi lại xuất hiện câu nói : "người già bé lại". Tôi không thể không nghĩ như thế bởi vì nếu còm nhom như một trái chuối khô quắt và chỉ cao nhỉnh hơn chiều cao chiếc xe hon da một tí thì bà cụ kia đã trải qua thời kỳ rực rỡ của một thiếu nữ và một người đàn bà như thế nào? Chắc chắn thời gian đã lấy lại nhiều thứ mà chính thời gian đã tạo nên từ mỗi con người?

Nhiều người biết bà. Bà là con của một gia đình khá giả nhiều đời ở trong thị trấn. Bà đến gần bàn caphê của chúng tôi hai tay tì hẳn vào chiếc gậy tre dẫu cả thân hình bà đè lên chiếc gậy thì chiếc gậy cũng chỉ in một dấu tròn mơ hồ trên nền đất. Bà nói thều thào rằng bà muốn xin một chén trà nóng. Trong chúng tôi sẽ có một người rót trà đưa cho bà kèm theo một số tiền đủ mua một tô phở hoặc ăn một bữa cơm đàng hoàng. Bà uống xong chén trà nói những lời cảm ơn vừa bối rối vừa  rườm rà và bỏ đi.

Chúng tôi ai cũng thương bà.

Chúng tôi ai cũng thắc mắc tại sao một người già trong một gia đình khá giả lại đi xin nhưng không ai nói ra.

Tôi có một người bạn là cư sĩ  tu học tại gia theo môn Tịnh độ tông của Phật giáo anh cho rằng người thọ kiếp ăn xin từng là kẻ phí phạm ruồng rẫy dẫm đạp lên thức ăn vật uống. Hoặc vì chút vật phẩm sớm tươi chiều bốc mùi trên mà coi khinh người khác ở trong những kiếp nào đó vì vậy kiếp này phải làm người xin ăn để biết mùi vị Hổ Lốn mà chuộc lỗi.

Không biết có phải như vậy không nhưng ăn xin thì có nhiều dạng người điều này phô bày khắp nơi từ thành đô phồn thịnh đến ngỏ hẻm làng xa đều có. Nếu chịu khó quan sát một chút sẽ thấy. Với một số người đây là nghề hái ra tiền dù có hơi khổ nhục một chút thôi thì cứ xem như "kế sinh nhai khổ nhục" vậy. Bởi vì nhiều gã đàn ông lực lưỡng mạnh khỏe đã bôi phẩm màu kinh dị tạo ra những vết lở loét trên người rồi giả không đi lại được bò lết trên đám sình lầy nhưng ruộng giữa chợ miệng không ngớt kêu gào khóc van xin. ( Kế này khá hữu hiệu bởi ai thấy một đống người bầy nhầy trong vũng sình xã hội đều phải động lòng tiền rớt vào chiếc túi đeo ngang hông nườm nượp như bươm bướm rập rờn vào mùa giao tình)

Họ đã làm cho những người sa cơ những cụ già thất thểu đeo chiếc giỏ vào gõ cửa từng ngôi nhà ở nông thôn kém thu nhập hơn đồng thời chịu cả những ánh nhìn lời dị nghị hàm oan. Bởi có nhiều người khó chịu với hình ảnh người đi ăn xin họ từ chối thẳng thừng và dòm theo người hành khách bằng ánh mắt nghi kỵ miệng càm ràm: Xin xỏ cái gì rình rình hở ra cái gì trộm cái nấy thì có!

Tuy vậy không ít thì nhiều họ cũng xin được từ lòng hảo tâm của người khác nắm gạo vài đồng tiền lẻ.

Thế nhưng nghề ăn xin không chỉ dừng ở đó nó biến dạng khệnh khạng tiến vào công sở nơi người ta ăn mặc bảnh bao bằng cấp trưng ra và bảnh chọe ngồi trên ghế điều hành hay giữ một vai vế nào đó.

Chiều qua bé Thái một nhân viên tạp vụ làm hợp đồng bước ra khỏi nhiệm sở với bộ mặt đưa đám. Cháu nói tháng này cháu chưa "cho card" điện thoại "Chú" được vì mẹ cháu bệnh nằm viện hơn chục hôm."Chú" đã nhắn tin hỏi cháu lo quá. "Chú" từng nói thẳng rằng nếu không biết điều thì công việc chẳng thể làm lâu đươc. Giọt nước mắt buồn bả và sợ hãi của con bé tuôn ràn rụa...

Hôm nọ tôi trở về nhà trên một chuyến xe khách vắng teo. Đến một chỗ nào đó trên đường xe ngừng lại chủ xe móc trong túi ba mươi ngàn đưa cho chứ lơ chú lơ xe nói năm chục ba chục ngàn chúng không lấy đâu. Bà chủ xe mặt méo như cái bị rách đành moi ra tờ năm chục kẹp vào cuốn sổ nhật ký xuất nhập bến. Chú lơ xe cầm quyển sổ chạy ù sang bên kia đường ở dưới một bóng cây một "quí ông" ngồi phì phèo thuốc lá trên chiếc môtô phân khối lớn biển số xe màu xanh mặt "quí ông" vênh vênh và lạnh như nước đá đóng băng. Chừng 2 phút chú lơ xe ào trở lại và xe chạy. Chú đưa quyển sổ lại cho bà chủ với cái nháy mắt đại ý nó ăn rồi. Bà chủ xe chửi hôm nay xe ế rạc ế chảy nước như thế này có cái đáy quần gì mà nó cũng ăn! Bẩn hết mức!

More...

BÃO KHÔNG CHỈ ĐẾN TỪ TRỜI

By Nguyễn Lâm Cúc

 


(Ảnh cóppy trên mạng)

Nguyễn Lâm Cúc

Hôm nay tôi được mượn đi theo để tính tiền cho một cuộc tiếp khách.

Khi mới khởi hành đoàn chúng tôi có 5 người. Thế nhưng lúc bia rót vào ly thì mâm nhậu đã lên đến 11 người điện thoại vẫn chưa ngừng réo anh Năm anh Ba. Rồi  các anh Năm chú Tám anh Hai anh Tư đã uể oải đến bệ vệ ngồi xuống mâm nhậu  khiến cho nhiều người thóm róm và hãnh diện nhiều người thầm ganh ghét trong lòng.

            Tiệc tan tôi là người ra về sau cùng.

Đây là lần thứ mấy tôi có mặt những bữa nhậu lênh láng như thế này cũng không nhớ nổi. Nhưng chắc chắn đây chưa phải là lần sau cùng. Tôi vừa nghĩ như thế vừa kiểm bia trong các thùng mở toang hóac để chầu chực bốn chung quanh. Trời ạ bia lon hiệu Heniken vừa bung nắp vung vãi khắp mặt bàn và cả ở dưới gầm bàn. Tất cả mọi chiếc ly đều còn đầy bia có ly bia tràn cả ra ngoài. Đĩa thịt kỳ đà xào sả ớt vơi gần hết. Thố baba hầm thuốc bắc còn một nửa. Chén gà ác ninh táo khô cam thảo cũng mới vơi  lưng lửng những chiếc đầu gà đen thui nằm nghẹo cổ buồn thiu. Còn nồi lẩu hải sản thì gần như chẳng ai đụng đến. Thật là một sự thừa mứa phí phạm!

Chủ quán đem ra tờ hóa đơn trên 5 triệu bạc. Nghĩa là bữa nhậu hơn một tấn lúa. Tết Kỷ Sửu vừa rồi tôi nhớ lúa có hai ngàn tám mà nhà cậu Chín phải đi năn nỉ người ta mới mua dùm cho để có tiền ăn tết. Một lon bia giá trên hai mươi ngàn đồng nghĩa là ba ký gạo trắng thơm phức nghĩa là gần chục ký lúa. Những ký gạo trắng ấy những hạt lúa mà cậu Chín lăn bùn quanh năm mới có được chủ quán đang đổ ào ào vào thùng nước bẩn.

Tôi nhớ đến bọn trẻ lang thang lượm rác tôi vẫn gặp mỗi ngày trên đường bọn chúng thường nhịn đói bữa trưa là xin nước uống qua cơn ở bất kỳ giếng nước thơm thảo nào.

Ra về trời đã khuya đường vắng tanh. Tôi vừa chạy vừa nhớ về một cuộc nhậu khác. Dạo nọ một vị trưởng phòng  (phòng nhỏ nhỏ thôi) đã nổi hứng sau cử nhậu trưa xách xe con của cơ quan chở dăm bảy người vượt trên 200 km đường đèo đến Hồ Tuyền Lâm- Đà Lạt  nhậu tiếp. Những chiếc ca nô ngược hồ Tuyền Lâm cập bến vào đâu đó trong rừng thông đại ngàn của Đà Lạt. Dưới bóng thông ẩn những mái tranh kiểu cọ đầy vẻ mời mọc và có đủ các món ăn chơi chiều đãi quí thượng đế lặn lội đến nơi này.

Nhóm mà tôi nhắc đến đã chọn một gian quán ấm cúng thuê trọn gói. Họ gọi một con heo rừng loại heo sữa cắt tiết pha rượu mật gấu và nấu cháo. Một người đi theo giám sát việc làm heo. Nhưng đến khi cậu phục vụ còm nhom có nước da vàng bủng   bưng nồi cháo bốc khói dọn ra bàn. Nhiều cặp mắt soi mói nhìn vào nồi họ lật nghiêng lật ngửa con heo nằm cong bên trong rồi phán: Mất mẹ nó miếng đùi rồi! Gã đàn ông mặc áo sọc ca rô đen đỏ vục nguyên bàn tay vào nồi cháo lôi con heo ra gật gù bảo đúng đúng mất mẹ nó miếng thịt chỗ này này. Chủ quán được gọi đến. Anh phục vụ run như thằn lằn đứt đuôi cúi mặt đứng lặng thinh một bên và nhận không biết bao nhiêu lời sỉ vả.

Cuối cùng nồi cháo không thể ăn hết bởi họ còn phải xơi cái  đầu heo luộc bộ lòng xào củ  riềng...

Khi tất cả mọi người xuống canô trở về họ đã gặp cậu phục vụ kia với túi xách quần áo trên tay ngồi khép nép ở  cuối đuôi thuyền. Cậu ta đã mất việc.

Hóa đơn buổi ăn chơi đó cho dăm người là hai tám triệu đồng ( chưa kể một người bị hất ra lề đường)

Hai hôm trước tôi lại có dịp tham dự cuộc họp tại đơn vị nọ họ đang bàn việc quyên góp cứu trợ đồng bào bão lũ miền Trung. Vị trưởng phòng cất giọng hết sức thống thiết để nói về nỗi khổ của bà con vùng thiên tai gió quật nước càn. Một người đàn ông mặc quần áo công nhân đứng đề nghị mỗi người góp một trăm ngàn còn ai có hảo tâm góp nhiều hơn thì không nên hạn chế mức đóng góp. Tiếng nói của người bảo vệ va phải một sự im lặng lạnh như nước đá.

Vị trưởng phòng cất tiếng đầy vẻ thông cảm thấu hiểu: Năm nay do khủng hoảng kinh tế các đơn vị đều báo đỏ kinh phí đơn vị chúng ta cũng khó khăn không kém. Chúng ta lại đã có hàng trăm cuộc đóng góp quanh năm vì vậy để chia sẻ với đồng bào bão lũ miền Trung lần này chúng ta đành gửi đến họ tấm lòng và món quà tượng trưng tôi đề nghị toàn đơn vị ủng hộ mỗi người mười ngàn đồng...?!

Tiếng vỗ tay lẹt đẹt vang lên. Mười ngàn đồng được trừ từ tiền lương tháng đến.

Mọi người rời khỏi phòng họp riêng bộ phận tài vụ ở lại để hợp thức hóa thanh toán những cuộc nhậu lênh láng từ năm trước kéo sang năm nay và còn dài dài về sau.

Bên ngoài mưa bắt đầu nặng hạt. Mưa hoài chán!

            Có người nói bão trên quê hương tôi không chỉ đến từ trời!

More...

CƠN MƯA VÀ QUYỂN SÁCH

By Nguyễn Lâm Cúc

 

( Ảnh coppy trên mạng)


Nguyễn Lâm Cúc

Cơn mưa bất ngờ rụng rào rào khiến cả làng Tây í ới nhau chạy táo tác vì nhà ai cũng phơi đầy sân bắp tiêu lúa.

Dù cả một sân lúa bán đi chẳng được là bao. Nhưng với dân nông tất cả là gia tài của họ.

Chị Liên mang cái bụng oải lắm rồi vì sắp đến ngày sanh vậy mà vẫn phải lạch bạch chạy ra phụ khép bạt quét góp.

Khiêng vác túm chạy ào ào như chạy giặc.
           Nhưng vẫn còn rất nhiều gia đình không kịp đem vào nhà đành kéo kín tấm bạt phơi rồi tủ áo mưa tại chỗ.
           Sau mưa chị Mão bưng cái rổ ra ngồi tỉ mẩn lượm những hạt tiêu đổ nằm lẫn trong đám đất bùn nhão nhẹt. Chị lượm từng hạt từng hạt một cách kiên trì.

Thằng Hùng bé Liểu đi học về thấy mẹ cắm cúi chúng cũng cất cặp thay áo rồi ra hối hả lượm lượm nhặt nhặt cùng mẹ. Tối mịt không thấy gì nữa cả ba mẹ con mới thôi. Trên sân đất hạt tiêu đổ.cũng đã được lượm sạch. Chị Mão ngó đăm đăm xuống cống nước tiếc rẻ ánh mắt nói rằng biết bao hạt tiêu đã trôi đi mà không kịp lượm.

Trong chiếc rổ dúm tiêu ướt lẫn với đất và vài hòn sỏi ước được chừng một lạng. Nếu đem bán chắc được khoảng bốn ngàn đồng. Để không thất thoát số tiền đó ba mẹ con đã miệt mài hơn một tiếng đồng hồ.

Chị Mão một mình nuôi hai con. Cả gia đình sống nhờ vào vài chục gốc tiêu và gánh chè bán rong của chị. Khéo lo toan lắm mới không nợ đầu này đầu kia vì cả hai đứa con đều được cho ăn học. Để làm được điều đó họ chắt chiu từ những hạt thóc rụng hạt tiêu đổ dù trị giá bằng...Bằng gì nhỉ? Một phần tư ly cà phê? Một điếu thuốc thơm? Hay nửa que kem?

Tối đến thằng Hùng cắm cúi viết tập làm văn ở góc phòng. Bé Liểu học bài nho nhỏ trên bàn giữa nhà. Thằng Hùng chợt liếc nhanh về phía mẹ nó vừa làm rách một trang sách trong quyển sách Văn.  Chị Mão mà biết việc này sẽ rầy dữ lắm. Gia đình nghèo. Sách anh học xong để dành cho em chứ lấy đâu ra tiền mà mua sách mới. Thằng Hùng năm nay đang học lớp 12. Bé Liểu lớp 9. Sang năm bé Liểu vào lớp 10 gì chứ sách giáo khoa thì khỏi lo. Vì chị Mão năm nào cũng thu dọn cất cẩn thận.

Chị Mão đâu biết Bộ Giáo dục đang dự định lại cải cách sách giáo khoa!

Đã nhiều đợt cải cách sách giáo khoa. Thay sách giáo khoa.
 

Có hay hơn có tốt hơn hay không thì vẫn chưa ngả ngũ. Nhưng những gia đình như chị Mão đang bị "tướt"  mất kế hoạch ki cóp mấy năm trời của họ.

80% dân Việt Nam sống bằng nghề trồng bắp trồng lúa trồng đủ thứ... Nhiều người trong số đó muốn tiết kiệm nguồn mua sách giáo khoa để giảm gánh nặng bằng cách xin mượn sách giáo khoa cũ.

Có người độc miệng nói rằng cải cách chỉ là khuấy đục thị trường sách giáo dục nhằm vỗ béo bầy cò...

More...

TUỔI TRẺ ONLINE ĐĂNG NHIỀU KỲ "BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG"

By Nguyễn Lâm Cúc

( Thật là vui khi sáng bảy này được "Bài giảng sau cùng trên TTO. NLC coppy đem về đây để lại chia sẻ niềm vui với người anh kính mến Vũ Duy Mẫn)

Bài giảng cuối cùng - Kỳ 1: Xổ số cha mẹ

TT - Tôi đã trúng xổ số cha mẹ. Tôi được sinh ra cùng với một vé số trúng thưởng đó là lý do chính để tôi có thể đạt được những ước mơ tuổi thơ của mình.

Mẹ tôi là một giáo viên dạy tiếng Anh khá khắt khe và cổ điển. Bà nghiêm khắc với học sinh chấp nhận việc các phụ huynh ta thán bà đã đòi hỏi quá nhiều ở con cái họ. Làm con tôi biết về những yêu cầu cao của mẹ và thấy đó là vận may của mình.

Cha tôi là nhân viên y tế ông tham gia Thế chiến II. Ông lập một nhóm phi lợi nhuận giúp trẻ em nhập cư học tiếng Anh. Để kiếm sống ông có một doanh nghiệp nhỏ bán bảo hiểm ôtô trong nội thành Baltimore. Khách hàng của ông phần lớn là những người nghèo có hồ sơ tín dụng kém hoặc ít tiền. Ông luôn cố tìm cách kiếm ra bảo hiểm để họ được phép lái xe.

Với cả triệu lý do cha tôi là vị anh hùng của tôi.

Tôi lớn lên khá thoải mái trong một gia đình trung lưu ở thị trấn Columbia bang Maryland. Tiền chưa bao giờ là một vấn đề trong nhà chủ yếu do cha mẹ tôi không có nhu cầu chi tiêu nhiều. Họ sống rất thanh đạm. Chúng tôi ít đi ăn tiệm tới rạp xem phim một hoặc hai lần mỗi năm. "Các con nên xem tivi - cha mẹ tôi thường nói - Nó không tốn tiền. Hoặc tốt hơn các con nên đến thư viện mượn sách mà đọc".

Khi tôi 2 tuổi và chị tôi 4 tuổi mẹ đưa chúng tôi đến rạp xiếc. Lúc lên 9 tôi lại muốn đi xem. "Con không cần phải đi nữa - mẹ tôi nói - Con đã xem xiếc rồi còn gì".

Theo chuẩn mực bây giờ điều đó có vẻ như một sự áp bức nhưng thật ra với cách sống như vậy chúng tôi đã có một tuổi thơ thật tuyệt vời. Tôi thấy mình thành đạt trong cuộc sống như ngày nay chính bởi tôi có một người mẹ và một người cha đã làm rất nhiều việc đúng đắn.

Chúng tôi không mua sắm nhiều nhưng chúng tôi lại nghĩ về mọi thứ. Cha tôi là người ham hiểu biết thời sự lịch sử và mọi điều liên quan tới cuộc sống. Lớn lên tôi nhận thấy có hai loại gia đình:

1. Loại gia đình cần đến từ điển trong bữa ăn tối.

2. Loại gia đình khác.

Chúng tôi thuộc loại thứ nhất. Hầu như mỗi tối chúng tôi đều phải tham khảo cuốn từ điển để trên giá sách cách bàn ăn chừng sáu bước. "Nếu mình có câu hỏi - cha mẹ tôi nói - thì cần phải tìm câu trả lời".

Thói quen bản năng trong gia đình tôi là không ngồi yên như những kẻ lười nhác rồi ngạc nhiên. Chúng tôi biết một cách khác tốt hơn: mở bách khoa toàn thư mở từ điển mở đầu óc của mình.

Cha tôi cũng là người kể chuyện rất tài ông luôn nói mỗi câu chuyện cần được kể với một lý do. Ông thích những câu chuyện đã trở thành châm ngôn về đạo đức sống. Ông là bậc thầy về loại chuyện như vậy và tôi đã tiếp thu được những kỹ xảo đó của ông. Bởi vậy chị tôi Tammy khi xem trực tuyến bài giảng cuối cùng của tôi đã thấy miệng tôi chuyển động và nghe một giọng nói nhưng không phải là của tôi. Đó là của cha. Chị biết tôi đã sáng tạo lại khá nhiều điều chọn lọc trong sự thông thái của cha. Tôi không phủ nhận điều đó. Thật ra lúc đó tôi có cảm giác như đã đội lốt cha mình trên bục giảng.

Tôi trích dẫn cha tôi hầu như mỗi ngày. Sau này tôi thấy mình đã trích dẫn về cha ngay cả những điều ông không nói. Theo cách nghĩ của tôi những lời uyên bác đó vẫn có thể là của cha tôi dù ông chưa nói ra. Với tôi ông là người biết mọi thứ.

Mẹ tôi cũng là người hiểu biết nhiều. Suốt cuộc đời bà luôn thấy có bổn phận dẫn dắt tôi. Và tôi biết ơn về điều đó. Cho đến nay nếu ai đó hỏi rằng hồi nhỏ tôi thế nào bà mô tả: "Tỉnh táo nhưng không quá sớm phát triển". Ngày nay chúng ta sống trong thời đại mà các bậc cha mẹ luôn khen con mình là thiên tài. Còn mẹ tôi coi "tỉnh táo" đã đủ như một lời khen.

Cha mẹ tôi biết cần làm gì để giúp đỡ mọi người. Ông bà luôn tìm kiếm những dự án lớn rồi dấn thân tham gia. Cha mẹ tôi đã cùng thuê ký thác một ký túc xá năm mươi phòng ở vùng nông thôn Thái Lan để giúp các em gái địa phương có điều kiện tiếp tục đến trường thay vì phải bỏ học làm gái điếm.

Randy Pausch cùng gia đình - Ảnh tư liệu

Ở tuổi 83 cha tôi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư máu. Biết không còn sống được lâu ông đã đăng ký hiến xác cho các nghiên cứu y học và đóng góp tiền để chương trình từ thiện của ông ở Thái Lan có thể tiếp tục được tối thiểu sáu năm nữa.

Nhiều người tham dự bài giảng cuối cùng của tôi bị thu hút bởi một bức ảnh tôi đưa lên màn chiếu: đó là bức ảnh chụp tôi trong bộ đồ ngủ nằm nghiêng tựa lên khuỷu tay. Rõ ràng tôi là một cậu bé ưa những ước mơ lớn.

Thanh gỗ chắn ngang người tôi là mặt trước của chiếc giường tầng. Cha tôi một người khá khéo tay đã tự đóng chiếc giường đó. Nụ cười trên khuôn mặt thanh chắn gỗ cái nhìn trong đôi mắt: bức ảnh đó nhắc rằng tôi đã trúng xổ số cha mẹ.

RANDY PAUSCH

VŨ DUY MẪN (dịch)

______________________________

Khi thừa nhận mình là một người may mắn Randy Pausch cũng đau đớn nhận ra cái may mắn ấy các con ông chẳng bao giờ có được. Những đứa trẻ của ông (5 tuổi 2 tuổi và 1 tuổi) rồi sẽ lớn lên trong sự thiếu vắng người cha...

Randy Pausch bước vào cuộc sống của con cái mình theo cách khác khi gửi đi một lời đề nghị.


Kỳ sau:
Cậu Randy xin một đặc ân


http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=341509&ChannelID=89

More...

Sắp xuất bản cuốn “Bài Giảng Cuối Cùng”

By Nguyễn Lâm Cúc

 
(Lang thang trên mạng NLC đọc được tin này ở blog của anh Vũ Duy Mẫn một người anh khả kính mà nhiều anh chị em trên VNWEBLOG biết đến. Anh cũng từng có một blog ở đây. NLC "chôm" thông tin về quyển sách dịch sắp được xuất bản của anh VDM  để thay lời chúc mừng. http://duymanvu.wordpress.com/)


(Bìa trước quyển sách)



phác thảo giao diện trang web giới thiệu cuốn sách của VinaBook/Mekong trên youbooks.wordpress.com

VŨ DUY MẪN

Trung tuần tháng Mười VinaBook và Nhà Xuất Bản Trẻ sẽ xuất bản cuốn "Bài Giảng Cuối Cùng" của Randy Pausch bản tíếng Việt do tôi dịch.

Thời gian là tất cả những gì bạn có. Và một ngày nào đó bạn sẽ thấy bạn có ít thời gian hơn là bạn nghĩ. - Randy Pausch

Đại học Carnegie Mellon (Mỹ) có chương trình mang tên "Bài giảng Cuối cùng" để mỗi năm một giáo sư được mời thuyết trình bài giảng lần cuối cùng của mình cho sinh viên. Đó là một truyền thống tuyệt vời qua đó cả người giảng lẫn người nghe có một khỏanh khắc để suy ngẫm về những gì là ý nghĩa nhất trong cuộc đời.

Tháng Chín năm 2007 người thuyết trình là Randy Pausch giáo sư tin học 47 tuổi cha của ba đứa con còn rất nhỏ. Ông mắc bệnh ung thư tụy và lúc đó các bác sĩ cho biết ông chỉ còn ba tới sáu tháng để sống. Bài thuyết trình của Pausch "Thật Sự Đạt Được Những Ước Mơ Tuổi Thơ" rất sinh động và cuốn hút như chính con người ông. Thay vì nói về cái chết bài thuyết trình nói về sự sống về việc thực hiện những ước mơ của chính mình và về việc tạo điều kiện cho những ước mơ của những người khác về việc sống thực từng ngày như đó sẽ là ngày cuối cùng của bạn.

Video bài giảng của ông được lan truyền trên internet và được hàng triệu người xem.

Bài Giảng Cuối Cùng xuất bản tháng Tư năm 2008 với sự cộng tác của Jeffrey Zaslow phóng viên của Thời báo Phố Wall (The Wall Street Journal.) Vì muốn xuất bản bài giảng dưới dạng sách nhưng lại không muốn phí thời gian tách khỏi các con Pausch một người biết cách làm việc rất hiệu quả đã dùng 53 buổi đi xe đạp tập luyện hàng ngày qua điện thọai đi động kể những suy nghĩ của ông cho Zaslow để chuyển những câu chuyện kể này thành dạng một cuốn sách.

Bài Giảng Cuối Cùng là một cuốn sách nhỏ có thể đọc trong vài buổi ngắn. Nó bao gồm nhiều câu chuyện và cảm nghĩ cô đọng cho ta thấy Randy Pausch đã hòan tất những ước mơ tuổi thơ của ông ra sao và những nguyên tắc mà ông đã tiếp thu được trên con đường đó. Những hạt ngọc này bao gồm quan điểm của Pausch "những bức tường gạch trên đời ở đó để cho thấy chúng ta mong muốn một việc gì đó nhiều tới đâu " nhận xét "kinh nghiệm là thứ bạn có khi bạn không đạt được điều bạn mong muốn " và một châm ngôn của triết gia La Mã Seneca "may mắn xảy ra khi sự chuẩn bị gặp gỡ cơ hội."

Pausch có trí nhớ tuyệt vời và là người kể chuyện tài tình rất lôi cuốn.

Cuốn sách được viết cho riêng ba đứa con nhỏ của Randy Pausch là Dylan Logan và Chloe để ghi lại những điều căn dặn của một người cha mà ông sẽ không còn ở đó để nói với các con khi chúng khôn lớn. Nhưng nó sẽ được hàng triệu người đọc bởi những gì Pausch viết là những thông điệp phổ dụng và rất rõ ràng tất cả chúng ta đều có thể thấy hữu ích.

VinaBook/Mekong có bài giới thiệu cuốn sách trên trang web

More...

THẬT HAY ĐÙA?

By Nguyễn Lâm Cúc

( Không yêu cũng chiếm một phần lấy oai!)

 
( ảnh coppy trên mạng)

Nguyễn Lâm Cúc

Với nhiều người văn chương mạng là trò chơi của những người nhàn cư lương thiện.
 

Tác phẩm chào đời trên mạng được không ít bạn đọc gương mục kỉnh trợn mắt  thưởng thức. Phần lớn được đùm bọc trong những lời khen nhung lụa. Bỗng một ngày kia gia chủ hay ai đó đăng lên một bố cáo rất long trọng rằng đã thành "người" vì mới được tờ báo này tạp chí kia in. Từ đó hơn hẳn trong mắt chính tác giả và " da tuyết mày cong" hẳn ra trong mắt những người từng thấy nhớn lên. 

Nói theo kiểu hàng hóa thời a còng đã được dán tem kiểm chứng. Cũng từ đó mới được xem là đã có đời sống thật được khai sanh.

             Hầu như tờ báo nào cũng dành một rẻo "đất" bé tẹo cho văn chương vào những số  cuối tuần. Báo văn chương phát hành trên toàn quốc có Văn Nghệ Văn nghệ trẻ Văn nghệ Quân đội tạp chí Văn...Các tỉnh thành khác có tạp chí Văn nghệ. Một số mỗi tuần ra một tờ có nơi  tháng xuất bản một kỳ hay ba tháng mới được một ấn phẩm.

Tuy ngày nào cũng thấy vài ba một truyện ngắn dăm bảy tản văn hàng chục bài thơ trên các mặt báo này báo nọ. Nhưng số lượng này ít hơn số lượng chúng được sanh ra rất nhiều. Nghĩa là có hàng vạn đứa con tinh thần của loài người của văn chương Việt chưa và  không bao giờ nhận được giấy khai sanh. (Chưa hẳn chúng không nghiêng nước nghiêng thành về nhan sắc).

Mạng Internet đã cho chúng cơ hội.

Mạng Internet đến tận nhà mời người ta bước ra với thênh thang.

Ai cũng biết rằng nhà thơ nhà văn ít có người sống được bằng nghề cầm bút. Phần lớn họ công bố tác phẩm là để bạn đọc biết đến chúng. Trong số họ trước đây đã có tác giả bán con heo ki cóp của người vợ quanh năm sấp mặt ngắm đất để lấy đồng tiền in thơ văn thành tập rồi khệ nệ ôm đứa con tình thần của mình đi gửi gấm cho người này người kia. Xót cả rụôt! Bởi cũng đã có không ít người nhận chúng theo kiểu này đã không giở quyển sách ra một lần nào.

Biết làm sao được trong thời buổi cứ bằng mặt cho xong! Không yêu cũng chiếm một phần lấy  oai.

Nhưng thời đại cho cả người viết lẫn người đọc một cơ hội mở. Với người viết ngoài các website cá nhân blog đang trở thành những tờ báo riêng kênh phát thanh riêng hay là nơi công bố tác phẩm quan điểm của từng tác giả. Nhiều blog trở thành chốn bạn đọc tìm đến mỗi ngày. Thậm chí họ không đến đó một lần cảm thấy ngày đó trôi qua trong tiếc nối.

Khái niệm blog là nhật ký đã thiên biến muốn hiểu theo kiểu nào cũng được miễn là người dùng blog nằm trong khuôn khổ cho phép của pháp luật. Và cũng không hề gì nếu nói mỗi blog là một trang báo cá nhân.  Mạng thò bàn tay trẻ trung của mình vào bóng tối lôi ra không ít thứ từng bưng bưng bít bít và làm cho một số cây kéo cắt xén phải thận trọng.

Mạng đã thỏa mãn nhu cầu công bố tác phẩm với bất người cầm bút nào miễn là người đó đáp ứng những điều kiện tối thiểu: Gõ được phím đưa được bài viết lên mạng. Bài viết thì đến thẳng với người đọc mà không cần qua những cái lưới lọc nào khác. Cả người đọc lẫn người viết đều sung sướng với mênh mang chân trời đang mở toang.

Không chỉ vậy mạng đang đem đến cho những người cầm bút cơ hội tạo ra thị trường văn chương toàn cầu nếu đủ sức. Điều này chắc chắn không phải là mới mẻ ở những quốc gia tiên tiến.

Văn chương mạng nền văn chương đang được trẻ hóa về nhiều mặt và không hề đùa chút nào.

 

 

More...

ĐỜI SỐNG VÀ GƯƠNG MẶT THƠ

By Nguyễn Lâm Cúc

  (...Nhưng quan trọng và phổ biến hơn nhà văn nhà thơ nhà báo chân chính là tinh hoa của xã hội bởi tư tưởng hiểu biết và tầm nhìn của họ. Họ là những con người của tư duy có khả năng tạo ra động lực cách mạng nhưng thường không phải là người làm cách mạng. Vì thế họ không cần chức sắc. Giá trị của người cầm bút chắc chắn không phải chiếc ghế họ ngồi mà là những tác phẩm họ để lại cho đời. Vũ Duy Mẫn)



( Ảnh coppy trên mạng)


Nguyễn Lâm Cúc

Mới đây vào giữa trưa tôi đã xem chương trình văn nghệ ở một đài địa phương. Trên khung hình ti vi hiện ra những người bạn quen biết trong đó có nhà thơ Huỳnh Hữu Võ.
Trong cuộc đời sáng tác của mình nhà thơ Huỳnh Hữu Võ rất có duyên với ca khúc. Ông đã có 115 bài thơ phổ nhạc. Nhiều bài được công chúng yêu mến ví dụ như ca khúc Giọt buồn do Vũ Hoàng phổ nhạc đã được nhiều ca sĩ tên tuổi thể hiện. Mỗi khi đi hát karaoke với bạn bè tôi cũng hay tìm bài Giọt buồn rống lên dọa người khác.

Gương mặt nhà thơ Huỳnh Hữu Võ dưới ống kính truyền hình nhàu nát. Hay đúng hơn ống kính đã chọn góc tả chân thực hình ảnh về Ông. Thời gian tỏ ra rất thành công trong việc lưu vết gian truân lên da thịt của người viết thơ. Ngoài mái tóc dài buộc túm ra sau gáy gợi cho người ta nghĩ đến sự lập dị. Còn lại vóc dáng màu da đến cử chỉ  Huỳnh Hữu Võ chẳng khác gì một nông dân.

Ông đang là linh hồn cuộc tọa đàm. Ngồi quanh ông còn có năm sáu gương mặt thơ khác nữa trong đó có một nhà thơ nữ. Chị còn trẻ tự giới thiệu là một giáo viên. Tuy vậy chị cũng không làm cho không gian nơi diễn ra buổi trò chuyện sáng hơn lên.

Họ ngồi bên một chiếc bàn thô sơ chiếc bàn đặt trong một gian nhà cũng thô sơ không kém và trống hóac. Lọt vào ống kính những tàu lá chuối vươn phất phơ lên trời trong cái nắng đỏ quạch. Đó là khung cảnh bên ngoài gian nhà nơi họ đang ngồi. Nếu không nghe những lời đọc thơ đang được các nhà thơ đọc một cách hết sức trịnh trọng. Mọi người đều nghĩ rằng đó là những nông dân sau khi cuốc đất trong vườn đến mệt lử họ ngồi nghỉ tay uống nước nói chuyện trên trời dưới đất.

Tôi tắt ti vi. Không phải vì chương trình dỡ thậm chí tôi còn phục nhóm quay phim dựng chương trình họ đã lột tả được cái sự thật của đời sống thơ hôm nay. Qua đoạn phim ngắn của họ qua cảnh tôi vừa tả trên nhóm làm phim này đã không làm như vẫn thường làm đó là đánh bóng tô vẽ lên những đời thơ vài ba cảnh ngụy tạo. Điều này bắt đầu hiếm trong thời buổi bệnh "nói tốt" đã nan y. Tôi tắt tivi vì không chịu đựng đựơc nỗi buồn tôi vừa cảm thấy được vừa cô đặc lại trong tôi. Đó là gương mặt và đời sống thơ èo ụôt!

Họ không xác xơ sao được? Một người có danh trên cả hai làng Thơ và Nhạc như  Hùynh Hữu Võ thì cuộc sống lại dựa vào quán cơm của vợ. Tôi tin chắc thơ chưa từng đem lại cho ông chút gì ngoài việc tốn kém thêm rượu cho mấy ông bạn ưa ngâm nga thi phú.

Đời sống thực như vậy. Đời sống tinh thần của các nhà thơ cũng chỉ quẩn quanh trong nhóm vài ba người với nhau. Họ ngó nhau đến xanh rêu! Tôi biết điều này rõ lắm. bởi tôi chưa từng nói chuyện thơ với ai khác ngoài Kim Oanh và anh Đinh Đình Chiến. Nhưng câu chuyện này cũng đâu chừng một hai lần trong một năm. Quanh đi quẩn lại  cũng chỉ vậy. Khi tôi ở nhà dù 3 đứa trẻ của tôi với tôi vô cùng thân thiết. Khi có thể mẹ con chơi trốn tìm chơi ô ăn quan chơi lò cò bắn bi...Nghĩa là chúng tôi vui chơi như tất cả đều là trẻ nhỏ. Tôi hét to hơn bọn trẻ nữa là đằng khác. Thế nhưng tôi chưa bao giờ khoe thơ của tôi với chúng. Bởi vì chúng sẽ không nghe khi tôi nói về thơ. Chúng sẽ cười một nụ cười hô hố và gạt phắt đi mỗi khi tiếng thơ thoát ra khỏi môi tôi. Chúng không biết thơ thẩn ấy để làm gì. Thật vô bổ!

Thơ trở thành một bí mật của riêng tôi tại gia đình. Trong suốt hai chục năm có cái ti vi tôi chưa bao giờ mở chươg trình thơ bởi vì mở ra các cháu sẽ tắt liền kèm câu nói nghe lê thê não cả rụôt.
 

Với con tôi còn dấu dấu diếm diếm những bài thơ mình viết không phải bởi vì viết thơ là xấu mà bởi vì tôi không thắng được cái dư luận : thơ thẩn như người mất hồn. Và viết thơ là "lãng mạn" lắm đấy! Chữ lãng mạn ở đây được hiểu được giải thích hết sức bình dân đó là : tình ái rất lăng nhăng.

Trong xã hội thì sao? Những trang thơ trên báo hầu như đồng nghiệp tôi chưa từng liếc mắt đến. Trong các buổi ngồi cà phê chúng tôi nói đủ thứ trên đời nhưng cũng không hề nói chuyện thơ.

Từ ứng cử làm hội đồng nhân dân đến xét chức này ghế khác hay một vai vế nào đó trong xã hội cũng không ai nói người kia vị nọ có tài làm thơ để xem như đó là một tiểu chuẩn chiếu cố. Bởi vậy rất ít những người mần thơ có một vị trí nào đó trong giới chức sắc cấp này cấp kia.

Vậy thơ sống ở đâu?

Với tôi hiện nay thơ chỉ sống với những người viết thơ mà thôi.

More...