LAN MAN CÙNG CHỮ DUYÊN

LAN MAN CÙNG CHỮ DUYÊN
Tản văn Nguyễn Lâm Cúc
Anh Van Quoc Thanh
( Từ trái sang người mặc áo nâu họa sĩ LCĐ chị Song Hảo NLC Kim Oanh và Văn Quốc Thanh)
Cuối cùng thì cầu Bắc Mỹ Thuận cũng đã hiện ra trong tầm mắt tôi đã mong đợi nhìn thấy gặp lại chiếc cầu này để lên trên chót đỉnh thả tầm mắt vuốt ve một vùng sông nước đồng bằng trải rộng. Tôi đã hò hẹn. Không phải một lần mà biết bao lần hò hẹn. Năm nào cũng hò hẹn thậm chí có lần tôi hẹn cả ngày tháng đi nhưng cuối cùng vẫn chưa trở lại Vĩnh Long sau nhiều năm.

Nói như nhiều người nói có lẽ tôi chưa đủ duyên. Mà “cái duyên” ngẫm cũng lạ lùng lắm!

Khi tôi ngồi gõ những dòng chữ này một người khác đó là nhà văn nữ Nguyễn Thị Dị chị quê ở Bến Tre nhưng đã định cư và làm việc nhiều năm tại Pháp. (Văn chương đã bắc cầu để tôi được biết chị quen chị). Ngày 11/7 vừa rồi chị về Phan Thiết tìm tôi. Một cái “duyên nữa” đón chị từ Sàigòn đưa về Phan Thiết là Kim Oanh người bạn bóng hình của đời tôi.

Cùng gặp chị tại Phan Thiết có nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn. Thế là tôi chị Dị và anh Nguyễn Bắc Sơn quyết định leo núi Tà Cú một cảnh đẹp núi núi non non thoát khỏi bụi bặm trần thế nằm trong ngay vùng mà ai nấy đều tưởng rằng chỉ có biển bao la với những cơn sóng cồn cào xô dạt chân trời ngút ngát và những đồi cát ma mị mới đáng quan tâm mới xứng công tìm đến thưởng ngoạn. Thật sai lầm. Sai lầm nhất vẫn là tôi. Sanh ra lớn lên tại Bình Thuận tôi đã có hàng ngàn lần ngang qua dưới chân núi thế mà mãi đến hôm nay mới lần đầu lên núi và ngỡ ngàng mà nuốt lấy nuốt để vào tầm mắt vào hồn những núi nhấp nhô kiêu hãnh trùng điệp. Điểm xuyết trên tầng tầng lớp lớp sắc xanh những vầng bằng lăng tím biếc lộng lẩy những mảng hoa mận nhãn rừng trắng rưng rưng. Đâu đó tiếng chim hót líu lo tiếng hót gọi mời tiếng hót thủ thỉ tâm tình…Lời thì thầm của non cao của đại ngàn của ngàn năm gọi ta về cùng thiên nhiên thanh tịnh.
Khi chúng tôi cùng vốc tay trên dòng nước trong vắt chảy ngang con đường nhỏ để rửa mặt chị Dị nói: “Phải chờ chị phải có chị em mới đủ duyên lên núi Cúc à.” Tôi chỉ còn biết gật sái cổ. Tâm phục! Duyên. Đúng vậy không hữu duyên ta mãi mãi quan san cách trở trong đời này kiếp này.

Ui phải gọi điện cho anh Lâm Chiêu Đồng như lời anh dặn dò. Alô! Em đã sang đầu bên này cầu Bắc Mỹ Thuận rồi đó anh. Tiếng nói của anh trầm ấm mang âm hưởng người Nam bộ rất đặc trưng rõ ràng anh cũng đang xúc động. Hỏi mấy anh xe ôm tới quán Tây Nguyên đường 2 tháng 9 Cúc nha. Anh với mấy người bạn nữa đợi Cúc và các bạn ở đó. Rẻ lối nào tới 2 tháng 9 hả anh? Cứ hỏi xe ôm là biết liền Cúc hà.
Chúng tôi có hơi lúng túng một chút khi đã vào giữa trung tâm thị xã Vĩnh Long. Kim Oanh hỏi một anh xe ôm khi chúng tôi qua một bùng binh nào đó. Anh xe ôm ngơ ngác một chút rồi chỉ tay về phía chúng tôi vừa đi qua bảo rằng quán Tây Nguyên và đường 2 tháng 9 phải rẻ ngược lại. Hình như ngay cả anh ta cũng không tin lời mình nói chị Cúc à. Oanh bảo vậy và chúng tôi bèn hỏi ngay một người khác thì đúng là thông tin của anh xe ôm hoàn toàn sai.
Quán Tây Nguyên rất thoáng chung quanh bờ tường có những chùm phong lan dây có lá hình trái tim được trồng rất nhiều xanh mướt. Anh Lâm Chiêu Đồng đón chúng tôi ngoài cổng. Trong chiếc áo màu nâu nhạt trông anh thật lịch lãm. Ui không thể ngờ ngồi tại bàn cà phê là chị Song Hảo và anh Văn Quốc Thanh những cây bút vững chãi của Vĩnh Long. Tôi và Oanh ngồi xuống rồi yêu cầu anh Văn Quốc Thanh chạy về kiếm máy ảnh ghi lại cuộc hạnh ngộ với chị Song Hảo.
Bây giờ thì có rất nhiều người nói ngày thứ Bảy mồng 7 tháng 7 năm 2007 là một ngày may mắn. Nhà thơ Trần Đăng Khoa còn khẳng định trong trăm năm mới có một ngày trùng 4 thất như vậy. Còn tôi chỉ biết rằng ngày đó trong dự định của chúng tôi là để gặp một số bạn hữu tại Phan Thiết. Chương trình đã chắc như đinh đóng cột nhưng cuối cùng lại không diễn ra và chúng tôi đến Vĩnh Long chỉ từ một ngẫu hứng. Một ngẫu hứng mang lại cho tôi niềm vui được ngồi bên cạnh chị Song Hảo được nghe Kim Oanh đọc bài thơ của chị:
“ Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau
Chim ơi đừng bay nhé
Cây ơi lay thật khẽ
Cho đôi bạn trẻ đón xuân về.
Khi mặt trận bình yên….
Có thể Kim Oanh đọc chưa thật đúng với nguyên văn bài thơ chị Song Hảo im lặng để nghe một người xa lạ gặp lần đầu tiên đọc thơ mình nói về mình.
Chị Song Hảo thật hiền. Bây giờ đã ngoại sáu mươi nhưng nhìn chị vẫn nét lắm. Những nét kia chứng minh ngày xuân sắc chị Song Hảo là một phụ nữ kiều diễm. Chị ít nói trong giọng nói của chị thỉnh thoảng có một vài âm sắc của tiếng Bắc chị giải thích do hồi còn công tác vì tiếp xúc nhiều nên mới có chút âm hưởng như vậy trong giọng nói còn chị là người Vĩnh Long từ trong trứng nước. Chị đã nghỉ hưu chị nói rằng những ngày còn lại chỉ muốn xuôi ngược theo chiều dài của đất nước để thăm để ngắm để hiểu để yêu và viết.

Anh Văn Quốc Thanh lúi húi với chiếc máy ảnh và chân dựng. Chúng tôi đã được thu vào ống kính nhỏ bé kia những gương mặt đã nhàu úa vì muôn lẽ.

Anh Lâm Chiêu Đồng đề nghị chúng tôi nên đến thăm Văn Xương Các một nơi người xưa thường dùng để gặp gỡ và đàm đạo văn chương “ Hậu bối chúng ta cũng nên học đòi ngừơi xưa một chút. Đó cũng là dịp để người Vĩnh Long khoe “đặc sản” quê hương chứ quán cà phê như vầy đâu mà không có”. Anh Lâm Chiêu Đồng nói vậy. Chúng hưởng ứng ngay. Trên đường đến Văn Xương Các ghé thăm xưởng vẽ của họa sĩ.

Một căn nhà lợp tôn vách dựng cũng bằng tôn. Chiếc quạt quay vù vù hết tốc độ ở đâu đó nhưng ái nấy đều cảm thấy mồ môi ướt đẫm trên mặt. Ở gian trước là nơi họa sĩ bày bán những bộ bàn ghế cũ. Có một người phụ nữ trẻ trông hàng gương mặt buồn hiu hắt. Tôi có cảm tưởng như chị chẳng dính dáng gì tới những vật dụng chung quanh và với họa sĩ mà hình như chị cũng không dính dáng gì tới cuộc đời này nữa thì phải. Vì sao người ấy lại hờ hững như vậy nhỉ?

Một vách ngăn mỏng ngăn cách nơi bày bàn ghế bán và nơi họa sĩ lao động. Một bức tranh khổ rộng có lẽ đến 1 2 mét x 1 6 mét đang được dán lở dở. Chúng tôi mê mẩn xem những tác phẩm hiếm hoi họa sĩ còn giữ lại. Bức “ Màu xanh còn lại” chỉ còn bằng một tấm ảnh chụp khổ rộng bức ảnh lại hỏng vì đường viền diêm dúa. Trên tường bức tranh “Rừng bạch đàn” một bức xé dán tuyệt vời. Nó tuyệt đến đổi bạn đã nghe chính tác giả nói đó là tranh xé dán nhưng vẫn không tin vì nó giống màu nước quá vì nó mong manh quá vì nó “điệu nghệ” quá!

Không hiểu sao mỗi lần nhìn ngắm tranh của họa sĩ Lâm Chiêu Đồng là mỗi lần tôi thấy lòng mình mơ hồ nhói lên một cảm giác đau buốt. Vẽ đẹp rất thực trong tranh lại hóa ra mơ hồ như sương khói. Nó thực lắm. Nhưng lại không sao chạm tới được. Nó như hạnh phúc. Hạnh phúc có thể bao trùm lên mỗi đời người và mỗi đời người phải tinh tế cảm nhận. Chỉ cảm nhận thôi nhưng hình như trong mỗi con người ai cũng muốn chiếm hữu thấy bông hoa đẹp liền thò tay ngắt lấy. Sự chiếm hữu đã làm cái đẹp tan vỡ trong lòng tay?

Hầu như bức tranh nào của họa sĩ cũng có chút gì đó liên quan đến sông nước đồng bằng cũng là mây trời và nhiều nhất vẫn là cây cỏ. Kim Oanh đã hỏi tại sao những bông hoa cây cỏ trong một số tranh của anh vừa rất monh manh vừa như không có trên đời này ví dụ như bức “ Hoa sen” chẳng hạn?

Tôi nghĩ trăm năm trước hoa sen này có thể không như hôm nay nó giống như chính trong bức tranh tôi vẽ hoặc giả trăm năm sau hoa sen bây giờ sẽ là vậy. Mọi vật trong vũ trụ luôn chuyển biến mà. Tôi vẽ những cỏ cây trong tâm tưởng của tôi. Tôi rất mê cây cỏ. Đam mê cuồng nhiệt. Nhưng cho đến bây giờ khi tuổi đã “ tri thiên mệnh” vẫn không có tấc đất cắm dùi nào. Nhưng những giấc mộng về cây cỏ của tôi vẫn không nguôi và mãi mãi có thể đó vẫn chỉ là những giấc mộng mà thôi. Họa sĩ Lâm Chiêu Đồng đã nói vậy. Anh nói như anh đang dốc cạn bầu tâm sự của mình không phải với chúng tôi mà hình như với đời này khi chúng tôi đã ngồi tại quán càphê lồng lộng gió và hứng bóng mát từ những hàng cây sao trong khuôn viên của Văn Xương Các.

“Văn Xương Các tại Vĩnh Long là nhà đài dùng làm nơi thờ các vị Văn Xương và Võ Trường Toản trong phạm vi Văn Thánh Miếu ở Vĩnh Long đồng thời làm nơi dạy học hội họp đàm luận văn chương đọc sách. Văn Xương các là một trong hai bộ phận kiến trúc chính trong Văn Thánh Miếu. Hai bộ phận kiến trúc chính này là: Thánh Miếu và Văn Xương các. Ngoài hai bộ phận này còn có nhiều phần phụ kiến trúc khác. Văn Xương các này cũng là một Thơ Lầu.
Văn Thánh Miếu ở Vĩnh Long được khởi công xây dựng vào ngày 10 tháng 10 năm Giáp Tý năm 1864 và hoàn thành cuối năm Bính Dần năm 1866 đặt tên chính thức là Khổng Thánh Văn Miếu. Miếu Văn Thánh hay Văn Thánh Miếu là các cụm từ thường gọi từ cụm từ "Khổng Thánh Văn Miếu" do người dân địa phương nói trại qua trại lại từ cụm từ gốc.
Hiện nay tại Văn Thánh miếu thuộc phường 4 Thị xã Vĩnh Long còn có bài vịnh thờ cụ Phan Thanh Giản. Văn Thánh miếu đã được trùng tu một bước đang là một di tích văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia. Tại đây còn một số cổ vật lịch sử: hai khẩu súng thần công đại bác (tương truyền đã dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860) một văn bia do cụ Phan soạn; một văn bia khác ghi sự tích tu sửa Văn Miếu bắt đầu từ 1915 và một bia khắc lời cúng ruộng vườn cho Văn Miếu của bà Trương Thị Loan (1915).”

Đoạn văn trên do tôi sưu tầm trích giới thiệu lại trong bài viết này để hiểu thêm việc họa sĩ Lâm Chiêu Đồng vì sao đã đề nghị chúng tôi đến đây. Tại chính điện tôi và chị Song Hảo đã thắp hương chiêm ngưỡng di ảnh của cụ Phan Thanh Giản người trong bức ảnh đã nhìn chúng tôi bằng đôi mắt sáng quắc cái nhìn như huấn thị chúng sinh nên nghiêm cẩn nhìn nhận lại nhân cách của chính mình.

Bánh xe đã quay ngược mà lòng chúng tôi chưa dời ! Chúng tôi mang theo về cả trời mây sông nước Cửu Long thực và ảo trong tranh. Chúng tôi đã mang theo lòng mình hình ảnh của chị Song Hảo nhà thơ nữ dịu hiền những bức ảnh của anh Văn Quốc Thanh và khắc đậm trong lòng chúng tôi tâm tình của họa sĩ Lâm Chiêu Đồng một trong những người con yêu quí và tài hoa của đất Vĩnh Long.