CUỘC CHIẾN PHÁ VỠ NIÊM LUẬT THƠ DIỄN RA KHI NÀO?

 


( Ảnh cóppy từ mạng Internet)

Chuyện cũ viết lại Nguyễn Lâm Cúc


Xảy ra lâu rồi đã hàng trăm năm còn gì? Nhưng ngày nay chắc chắn có nhiều người chưa biết tường tận vì lười tìm hiểu vì không muốn biết vì muôn ngàn điều khác...Trong số những người chưa biết ấy có tôi vì vậy tôi viết lại bài viết này trước hết là để thỏa mãn cái sự tò mò của riêng mình về một "lịch sử" từng gióng dã những hồi chuông chôn vùi cái cũ trong thơ phá vỡ thể thơ niêm luật chặt chẽ và đẩy nền thi ca Việt Nam phát triển một bước dài.

Theo nhà phê bình lỗi lạc nhất của nền văn học Việt Nam trong thế kỷ XX và cho đến cả hôm nay nữa đó là ông Hoài Thanh ( trong Thi Nhân Việt Nam do nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1999 và căn cứ vào bài viết : MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA- HOÀI THANH trong Thơ mới- Tác phẩm và lời bình. Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2007) thì lời tuyên chiến  với niêm luật thơ hay còn gọi là thơ cũ được ông Phan Khôi gửi đi vào tháng 3 năm 1932 trên tờ Phụ nữ tân văn. Sau phát súng đầu tiên ấy hàng loạt nhà thơ đã hưởng ứng đứng đầu là nhà thơ  Lưu Trọng Lư rồi nhà thơ Thế Lữ Vũ Đình Liên Nguyễn Nhược Pháp Nhất Linh Đoàn Phú Tứ Huy Thông Vũ Hoàng Chương...càng về sau những người viết theo thơ mới càng đông họ được người yêu thơ trong nước thời bấy giờ chấp nhận. Nhà phê bình Hoài Thanh miêu tả: " Ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân dõng dạc bước ra trận." "Đem ý  thật có trong tâm khảm mình tả bằng những câu có  vần mà không bị bó buộc bởi niêm luật gì hết"

Có lẽ cũng nên khái quát lại một chút về thơ niêm luật đã thịnh hành ở Việt Nam trước đó. Tôi cũng xin trích lại một đoạn trong bài viết MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA VIỆT NAM của nhà phê bình Hoài Thanh : " Đã lâu   người mình làm thơ chỉ làm những bài thơ tám câu mỗi câu bảy chữ. Theo ông Phan Khôi lỗi ấy qui cho khoa cử. Phép thi ngày xưa bắt học trò vào trường nhì làm một bài thơ theo thể thất ngôn luật. Thể thất ngôn luật vốn mượn của thi nhân đời Đường nhưng khi người ta đưa nó vào khoa cử nó bó buộc gấp mấy luật Đường. Theo luật Đường trong một bài thơ tám câu bốn câu giữa gọi là câu tam tứ câu ngũ lục và muốn nói gì thì nói. Phép khoa cử bắt phải gọi câu tam tứ là câu thực nghĩa là phải giải thích đầu đề cho rõ ràng hai câu ngũ lục là câu luận nghĩa là phải đem ý đầu bài bàn rộng ra. Thí sinh làm thơ nhất định phải theo qui mô ấy. Không theo hỏng"

Thời bấy giờ trên những tờ nhật báo chủ yếu đăng những bài viết về cuộc bút chiến giữa những người viết thơ mới và những tác giả bảo vệ thành trì đã suy tàn của thơ niêm luật. Ông Hoài Thanh nhận định: " Ở cái xứ vô sự này   câu chuyện văn thơ cơ hồ là câu chuyện độc nhất của số đông thanh niên nam nữ"

Không chỉ có trên mặt báo cuộc chiến này còn diễn ra ở nhiều diễn đàn ở Hà nội Qui Nhơn Quảng trị- Huế Sài Gòn. Trong đó không ít lần là những cuộc đăng đàn tranh luận từ cả hai phía.

Tuy nhiên sau một thời gian xuất hiện những bài thơ mới và được người yêu thơ đón nhận. Người viết tham gia ngày mỗi đông bởi vì cái khát vọng đổi mới : " Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đau đớn." Dấu hiệu đó đã được khẳng định vì cách sau đó vài năm thơ mới bắt đầu được công nhận trong lãnh địa trường học. Còn trên mặt báo thơ mới được người người tìm đọc vì vậy thơ cũ trên sách báo ngày một thưa dần. Mặc dù trong số họ có thi sĩ tài ba Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu khiến ông từng đăng mẩu quảng cáo: "Nhận làm thuê những thứ văn vui buồn thường dùng trong xã hội" hoặc quảng cáo bằng thơ nhận đóan lý số Hà lạc:

"...còn như tiền đặt quẻ

Nhiều 5$ ít có 3$

Nhiều ít tùy ở khách

Hậu bạc kể chi mà"

Đến đây tôi xin được trích kể về phía những nhà thơ bảo vệ thơ niêm luật cũ họ không hề đơn lẽ họ là những khả kính trong xã hội như Hoàng Duy Từ Nguyễn Văn Hanh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ông Tân Việt chủ bút báo Công luận ông Tùng Lâm và nhà hoạt động xã hội  lừng danh chí sĩ Hùynh Thúc Kháng cũng tham gia chống đối phong trào thơ mới.

Trong những bài bút chiến những cuộc tranh luận cái họ đưa ra bảo vệ thơ niêm luật đó là do niêm luật khó người viết thơ vì dốt không thông hiểu như một bọn mù nói mơ. Lại có một nữ thi sĩ tên Bích Ngọc viết lời tựa cho tập thơ " Những bông hoa trái mùa"( đây là tập thơ Đường luật xuất bản trong thời gian này). Trong lời tựa có ý khuyên: Làng thơ nên bỏ " ao ngoài" về tắm " ao ta dù trong dù đục". Một nhà thơ mới đã viết lời phản biện: ..."Dù ao nhà ấy đầy những bùn những vẩn. Tôi buồn người thục nữ có duyên đến thế mà kém vệ sinh"

Nhưng nguy hại cho thơ thật ra không phải vì phong trào thơ mới mà trong ngần ấy năm trời đã  định hình nhiều tên tuổi những nhà thơ Việt Nam với thơ mới thì trong làng thơ cũ không sáng tạo thêm được những bài thơ nào thực sự là thơ. Cho đến ngày nay nhắc đến thơ Đường thơ niêm vận luật lệ chặt chẽ vẫn những nhà thơ gắn với loại thơ này như Bạch Cư Dị Thôi Hiệu Hồ Xuân Hương ...( vì thơ Đường luật là loại thơ thi nhân Việt Nam ảnh hưởng nền thi ca Tàu)  chứ chưa định hình những gương mặt mới với thể thơ cũ. Tài năng nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là người có nhiều khả năng vực dậy sự suy vong của nền thơ cũ...Nhưng bởi v: " cuộc đấu tranh thực ra không chỉ là đấu tranh phá vỡ khuôn khổ gò bó mà là phá bỏ một cái gì đã dùng đi dùng lại đến mòn mỏi y hệt như cả trăm năm người ta hát đi hát lại bấy nhiêu đề thơ bằng  một giọng thơ  không di dịch.

Nhà phê bình Hoài Thanh nhìn sự cuộc ấy và nhận xét : " Cái cảnh thơ cũ lúc tàn không đến đổi buồn tẻ thảm hại như cái cảnh suy vi của nền Khổng học. Năm 1930 ông Phan Khôi viết trên báo Thần Chung SaiGòn một thôi 21 bài chỉ trích Khổng giáo. Thế mà những môn đồ còn sót của đạo Khổng nguội lạnh như không" ( Trích MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA- HOÀI THANH- Trang 144- Tác phẩm và lời bình)

Có lẽ tinh thần Nho Khổng chưa suy vi chỉ chuyển biến hình thái chuyển từ tầng lớp này sang tầng lớp khác như một chiếc áo choàng sang trọng trước đây được giới quí tộc nho sĩ nâng niu thì nay mảnh tàn y ấy vẫn đắc dụng không những gia đình nông dân vừa qua khỏi đói nghèo. Con dao vốn không nguy hại chỉ nguy hại ở chỗ cách dùng của người cầm dao.

Thoáng mà đã gần trăm năm kể từ cuộc chiến phá vỡ cái cũ trong khuôn khổ thơ  đã bị bào mòn. Nhưng nay liệu cái mới phôi thai và định hình từ cuộc chiến đó bây giờ phải chăng lại đang cũ và sự nguy hại là mỗi ngày đang có hàng ngàn bản  rập khuôn như vậy lại ra đời dưới tên thơ nhan nhản?

nguyenlamcuc

Gửi địa chỉ

Mình gửi đường link bài dân ca do anh TRung Kim viết nhạc cho bài thơ Hát Vu Vơ NiCo bấm vào nghe thử có được không nhé. Nếu không được mình phải mời "thầy" gửi dùm thôi.
http://nguyenlamcuc.vnweblogs.com/blog/2509/page/8

Nguyễn Lâm Cúc

Gửi NiCo

Thật vui biết bao khi được bạn cùng lên tiếng với nhiều cảm nhận chuyển tải một bài viết nữa về vấn đề "chúng ta quan tâm đến văn thơ để làm gì?". Mình trò chuyện cùng anh Đinh Đình Chiến hôm qua và mình nghĩ rằng cái cần đó là một tinh thần mới một sự đột phá để thơ văn Việt phát triển cuộc đột phá thơ văn những năm 1930 dù mục tiêu gần của họ là phá vỡ niêm luật thơ nhưng thật ra là đem một cái tinh thần mới thoát ly khỏi một tinh thần chế ngự hồn thơ đã hàng trăm năm và cùng song hành với hồn thơ ấy hòng mang lại sự phong phú. Nhưng cái thoát đó không chỉ là khoác lên mình một thể thơ mới không thôi mà còn phải là những bài thơ giá trị về nội dung về diễn đạt đứng được cùng người đọc trăm năm ngàn năm. Như vậy cái hay trong thơ mới quan trọng. Chứ đừng quá câu nệ đó là thể loại thơ gì viết dưới hình thức nào.

Vậy phong trào thơ mới phải chăng là một cuộc nổi loạn một cuộc cách mạng. Và cuộc cách mạng về thi ca ấy đã gián tiếp góp phần không nhỏ trong công cuộc vận động giải phóng con người Việt Nam? Để rồi về sau từ lãnh vực văn thơ phong trào vận động đòi tự do cách mạng giải phóng "cái tôi" lần lượt được lan rộng ra cho đển các lãnh vực xã hội và chính trị?

Paris - Tết Mậu Dần
Mình cũng rất thích kết luận trên trong bài viết NiCo đã gửi vào đây để cùng đọc cùng suy tư với những người " Muôn Năm Cũ". Họ đã sống trước chúng ta gần trăm năm nhưng tinh thần " Giải phóng con người" thì có lẽ sau chúng ta trăm năm nữa vẫn còn mới lắm thời sự lắm bạn NiCo nhỉ?
Trân trọng bạn quá chừng!
NLC

Nguyễn Lâm Cúc

Hai câu thơ hay quá!

Gỗ rừng đem in sách dở
Người đau - cây cỏ cũng đau

(Thôi mình không làm thơ nữa
Buồn vui xả rác lên trời)

Gỗ rừng đem in sách dở
Người đau cây cỏ cũng đau
Hai câu thơ như lửa cháy
Trên da thịt Thơ nhiệm mầu.

Bạn TC thân mến mình vừa ở bên nhà Bạn và đọc một cách thích thú ( như vừa nhâm nhi ly càphê thơm đến giọt cuối cùng trong một buổi sáng tinh khôi). Mình sẽ sang còm nhà Bạn sau. Bây giờ chỉ nói nhỏ mình Bạn nghe thôi đó là mình tin bác Quang vui tít mắt vì bài viết của bạn. Hôm nọ mình đã viết thơ tình bác Quang dưới nhan đề" Nhà văn Hoàng Đình Quang với những bài thơ tình không " Đặc sắc". Nhưng sau khi viết hơn nữa chặng đường thấy đuối sức đã bỏ đỏ. Hehe

Nico

Phong trào thơ mới: cuộc cách mạng thi ca đầu thế kỷ XX - Võ thu Tịnh (tiếp theo và hết)

Từ ngày xưa các nhà thơ Việt đã từng đem "cái tôi" ra thở than thương khóc: Nghĩ mình mình lại thêm thương nỗi mình! (Cung oán) Giật mình mình lại thương mình xót xa! (Kiều) Tôi ngồi tôi nghĩ cái thằng tôi (Tú Xương): Cái "mình" cái "tôi" thứ nhất là cái "tôi toàn thể" cái "mình" cái "tôi" thứ nhì là "cái tôi khách quan" đứng ra ngoài để quay lại nhìn cái "mình" và cái "tôi" thứ ba là "cái tôi chủ quan".

Hoặc để minh định vị trí hiên ngang của "cái tôi" giữa vũ trụ nầy Nguyễn Công Trứ có câu: Ngã kim nhật tại tọa chi địa / Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi. Ngàn muôn năm âu cũng thế ni (Chỗ ngày nay ta ngồi trước đây người xưa cũng đã ngồi tại đó nghìn năm âu cũng như thế cả: giữa quá khứ và tương lai trong thời gian= vũ); Không Phật không Tiên không nhuốm tục. (Con người ở giữa Tiên Phật và Quỉ Ma trong không gian= trụ)...

"Cái tôi" của nhà thơ ngày xưa trực diện với số kiếp huyền ảo với không gian và thời gian mênh mông vô tận. Tâm hồn họ có bi đát hay hiên ngang cũng chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ tôi ẩn nấp hòa tan trong đoàn thể gia đình quốc gia... Còn "cái tôi" của các nhà thơ mới mất bề rộng để tìm về bề sâu. Thi nhân ngày nay lắng vào nội tâm mình để khám phá tìm hiểu phân tích phô bày thêm về tâm trạng thầm kín u uất trong "cái tôi" của mình. Và phơi bày tâm trạng của một thi nhân cũng là phơi bày tâm trạng chung của độc giả của quần chúng như thi hào Victor Hugo đã nhận xét: "Khi tôi nói về tôi là tôi nói về anh với anh. Thế nào mà anh không cảm thấy được ?" và như Valéry gần đây đã nhắc lại: "Điên rồ sao mà tưởng tôi không phải là anh?" (7)

Tâm trạng chung của quần chúng Việt Nam lúc bấy giờ là tâm trạng uất hận bất mãn của những người dân bị mất nước. Mà dưới chế độ thuộc địa các nhà thơ văn đâu có thể trực tiếp đề cập tới tình hình xã hội và chính trị được họ chỉ tìm cách trình bày xa gần về những cảnh đói khổ của nhân dân cũng như về "những võ công oanh liệt chốn sa trường... (mà) dấu oai linh hùng vĩ thấy gì đâu?"

Henri le Maître trong La poésie depuis Beaudelaire nghĩ rằng: Trong hoàn cảnh lịch sử có sự xung đột giữa xã hội và cá nhân khi ý thức được về "cái tôi" của mình về cuộc sống xã hội thì "nhà thơ đồng nhất hóa thi ca với sự nổi loạn ". (8) Georges Jean trong La Poésie cũng xác nhận: "Cuộc nội loạn của các dân tộc bị áp bức thường bắt đầu bằng một cuộc nổi loạn thi ca".

Vậy phong trào thơ mới phải chăng là một cuộc nổi loạn một cuộc cách mạng. Và cuộc cách mạng về thi ca ấy đã gián tiếp góp phần không nhỏ trong công cuộc vận động giải phóng con người Việt Nam? Để rồi về sau từ lãnh vực văn thơ phong trào vận động đòi tự do cách mạng giải phóng "cái tôi" lần lượt được lan rộng ra cho đển các lãnh vực xã hội và chính trị?

Paris - Tết Mậu Dần

Nico

Tiếp: Phong trào thơ mới : cuộc cách mạng thi ca đầu thế kỷ XX - Võ thu Tịnh (4)

Nguyên lúc bấy giờ các nhà tân học đã hăm hở phấn khởi trước những hành vi tân tiến của Bảo Đại vị vua trẻ tuổi du học ở Pháp về (8-9-1932) tự do kết hôn với một nữ du học sinh đạo Thiên Chúa Nguyễn thị Lan con gái một phú hào miền Nam. Ngày 10-9-1932 nhà vua tuyên bố "từ nay tôi ngự trị với sự hợp tác của thần dân dưới hình thức một nền quân chủ lập hiến và sẽ cải cách những điều cần thiết: quan lại học chính và tư pháp". Ngày 2-5-1933 lại ban dụ thành lập Nội các mới Ngô Đình Diệm (31 tuổi) được cử làm Thượng Thư bộ Lại kiêm "thư ký" Ủy Ban hỗn hợp Pháp-Nam để nghiên cứu những cải cách đã loan báo. Nhưng 4 tháng sau tháng 11-1933 Ngô Đình Diệm xin từ chức nói ly do tại người Pháp nhất định "giữ hết quyền hành để cai trị trực tiếp nước Nam..." Từ đó Bảo Đại để cho Phạm Quỳnh (41 tuổi) giữ mặt tiền sân khấu. Do lỗi người Pháp mọi cải cách bị ngăn chận nhà vua chỉ còn quyền bảo thủ nghi lễ mà thôi.

Hơn nữa những biến động chống thực dân Pháp trong thập niên 30 của Việt Nam Quốc Dân Đảng bị thất bại 37 liệt sĩ bị xử tử (chứ không phải chỉ 13 vị ở Yên Bái mà thôi) đã gây nhiều xao xuyến trong nước sự đàn áp thẳng tay của Pháp lại gieo một không khí hoang mang kinh sợ hay buồn bã hoài nghi khắp nơi. Để trấn an Pháp một mặt lồng vào phong trào "vui vẻ trẻ trung" trên đây để tổ chức những hội hè khuyến khích nam nữ thanh niên ăn chơi vui nhộn để đánh lạc hướng tinh thần đấu tranh của dân ta một mặt ráo riết kiểm duyệt các thơ văn quốc sự.

Tất cả hi vọng đặt vào nhà vua trẻ tuổi tân tiến bỗng bị tan tành theo mây khói. Người ta chỉ còn biết thở than với những lời thơ "bóng gió" sầu mơ để giải bày nỗi niềm u uất của tâm tư:

Rồi cả thời gian tan tác đổ
Dấu oai linh hùng vĩ thấy gì đâu ?
Thời gian chảy đá mòn sông núi lở
Lòng ta luôn còn mãi vết đau thương.
(Chế Lan Viên)

Tình hình chính trị bế tắc ấy đã xua đẩy văn thơ đi dần vào con đường lãng mạn một lối thoát cho phần đông các nhà thơ đương thời. Một thứ lãng mạn đầy tuyệt vọng buồn đau:
Say đi em say đi em
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bực ngả nghiêng điên rồ xác thịt.
Rượu rượu nữa và quên quên hết...
... Đất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ em ơi!
(Vũ Hoàng Chương)

Theo dõi áng mây mơ theo trăng lạc giữa sao trời ngâm tràn cho đỡ buồn say cho quên quên hết thành sầu không sụp đổ... Ngột ngạt trong môi trường đen bạc thi nhân khao khát thoát ly. Đi đâu?
Đi đi...đi mãi nơi vô định
Tìm cái phi thường cái ước mơ.
(Hàn Mặc Tử)
Đi cùng anh tới Cô Tô thành cũ
Chờ trăng lên mơ những giấc mơ xưa.
(Huy Thông)

Và cũng là một "cái tôi" bất lực đến không thể hiểu được những ứng xử cảm xúc của chính mình:

Rồi một ngày mai tôi sẽ đi
Vì sao? Ai nỡ hỏi làm chi
Tôi khờ khạo lắm ngu ngơ quá
Chỉ biết yêu thôi chẳng hiểu gì !
(Xuân Diệu)

Người ta thường cho rằng các nhà thơ thời tiền chiến chỉ lẩn quẩn với tình yêu chỉ than khóc cho "cái tôi" lãng mạn khổ đau của họ mà thôi. Nhưng chính "đau khổ là ân sư của chúng sinh" thảm kịch của tình yêu là trợ lực giúp cho tâm tư con người biết suy nghĩ cao hơn về ý nghĩa cuộc sống và thấy có nhu cầu thể hiện những u ẩn của tâm tình vào lãnh vực văn thơ đưa nguồn thi hứng đi dần đến khuynh hướng lãng mạn trữ tình cá nhân.
Cũng như có nhu cầu thể hiện tình trạng đốn khổ của dân gian chẳng hạn:

Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ
(Xuân Diệu)

Nico

(Tiếp) Phong trào thơ mới: cuộc cách mạng thi ca đầu thế kỷ XX - Võ thu Tịnh (3)

Nhất Linh trong bài "Sự cân nhắc chữ nghĩa trong thơ cũ và thơ mới" (Phong Hóa số 63 tháng 10-1933) cho rằng các "nhà thơ cũ cân nhắc từng chữ cốt ý để câu văn được chỉnh đọc lên nghe cho kêu có những chữ đối chọi một cách tài tình khéo léo. Nhà thơ mới cân nhắc từng chữ để đắn đo xem chữ nào diễn đạt được cái cảm của mình đúng hơn cả xem phải cần đến chữ nào câu thơ mới có cái điệu khả dĩ diễn được sự rung động của linh hồn mình một cách rõ rệt". Song sự đổi mới ở đây lúc đầu chỉ là rời bỏ cách thức của thơ xưa để mô phỏng theo thơ Pháp như vừa thấy trên hay có khi lại dịch thẳng từ những câu thơ Pháp như "Partir c est mourir un peu" (Edmond Haraucourt) > "Yêu là chết trong lòng một ít" (Xuân Diệu); "Offrir beaucoup et recevoir bien peu de choses" (Arvers) > "Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu" (Xuân Diệu) ...

Các chữ dùng ở thơ mới đối với người đọc 1932-1945 nghe trái với sự hợp lý thông thường như: mặt trời đi ngủ cắn vào mùa xuân một chùm mong nhớ khóm yêu đương tiếng tung hô của ánh sáng.

Nhưng đối với thời nay lối lẫn lộn các chất loại cảm xúc khác nhau tạo thành những văn ảnh giàu tính dẫn khởi mà theo André Breton "là một sáng tạo của trí óc thuần túy. Văn ảnh không thể phát sinh từ một sự so sánh giữa hai sự vật tương tự mà từ một sự đưa hai thực tại xa cách nhau đến gần sát lại với nhau. Mối liên hệ giữa hai thực tại càng xa cách càng chính xác thì văn ảnh càng mãnh liệt... càng có nhiều cường lực xúc cảm càng có nhiều thực chất thi vị hơn ".
Đặc biệt văn ảnh trong Ca Tụng của Xuân Diệu:
Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ.
Dơ hai tay mơn trớn vẽ tràn đầy.

đã thoát thai từ bài Le Balcon của Baudelaire. Và chính Xuân Diệu cũng xác nhận:
Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men
Say thơ xa lạ mê tình bạn
Khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen. (Xuân Diệu)

Vào đầu thế kỷ XX nầy nhất đán tiếp xúc với Tây phương các nhà thơ văn ta tuy luôn luôn tìm cách chống đối thực dân Pháp chống đối các qui luật thơ cũ ảnh hưởng Trung-hoa nhưng đồng thời cũng tiếp nhận những tư tưởng tự do dân chủ gián tiếp qua các tân thư Trung-hoa của Khang Hữu Vy Lương Khải Siêu hay trực tiếp qua các văn thơ Pháp để mưu cầu công việc canh tân xã hội và riêng trong lãnh vực văn học để hình thành một loại thi-ca gọi là "thơ mới".

Trong việc canh tân xã hội một phong trào gọi là "sống vui sống trẻ" được phát động lan tràn ở các đô thị lớn. Đây là phản ứng của lớp trẻ vươn lên chống lại phái cũ phái già...

Nico

(Tiếp) Phong trào thơ mới: cuộc cách mạng thi ca đầu thế kỷ XX - Võ thu Tịnh (2)

Đến năm 1932 Phan Khôi mới thật sự khởi xướng lên vấn đề "thơ mới" và đăng trong "Phụ Nữ tân-văn" một bài thơ mới nhan đề "Tình già". Các báo Nam Phong Phong Hóa cũng đăng và cổ võ cho các bài thơ mới. Nhiều báo khác như Loa Nhật Tân Bạn Trẻ cũng đua nhau đăng những bài thơ bất chấp các qui luật cổ điển của lối thơ xưa. Nguyễn Thị Kiêm ở Saigon Lưu Trọng Lư ở Hà Nội đứng lên tán dương thơ mới. Trong khoảng thời gian 1933-1934 các nhà văn học nhóm Tự Lực Văn Đoàn cũng lên tiếng phê bình và lý luận thêm về loại thơ nầy. Phản đối không thành phái cũ dần dần ngả sang luận điệu "không có thơ cũ thơ mới chỉ có thơ hay với thơ dở" mà thôi.

Nhiều bài thơ mới của Thế Lữ Lưu Trọng Lư Vũ Đình Liên Xuân Diệu... lần lượt xuất hiện. Mười năm sau 1942 trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh thăng hoa 40 nhà thơ đặc sắc của làng thơ mới sau 1932. Thơ mới và các tác giả thơ mới công nhiên bước vào Văn học sử Việt Nam từ đấy.

Phong Hóa tháng 3 năm 1932 hô hào: "thơ ta phải mới mới văn thể mới ý tưởng".
Mới văn thể - Văn thể thơ mới khác với văn thể thơ cũ. Thơ cũ làm theo các văn thể cố định. Thơ mới văn thể hoàn toàn tự do: mỗi bài thơ mới có mấy câu mấy đoạn cũng được mỗi đoạn có bao nhiêu chữ cũng được:
Sáng nay tiếng chim thanh (5 chữ)
Trong gió xanh (3 chữ)
Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình. (7 chữ)
Ngàn xưa không lạnh nữa Tần phi. (7 chữ)
Ta lặng dâng nàng (4 chữ)
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian... (7 chữ)
Đoàn Phú Tứ

Vần loại nào cũng tốt không bị gò bó theo một qui luật nào nhưng sơ khởi thường theo các lối gieo vần thơ Pháp như:

- Vần ôm (rimes embrassées):
Chính hôm nay gió dại đến trên đồi
Cây không hẹn để ngày mai sẽ mát
Trời đã thắm lẽ đâu vườn cứ nhạt?
Đắn đo gì cho lỡ mộng song đôi!

(Xuân Diệu)

- Vần tréo (rimes croisées):
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.

(Xuân Diệu)

Nhạc điệu câu thơ cũng khác xưa đặc biệt như lối "chữ rớt" (enjambement) chẳng hạn:
Hôm nay tôi đã chết trong người
xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi.
(Xuân Diệu)

Phong trào thơ mới đã bỏ đi nhiều khuôn phép xưa song cũng có một số khuôn phép như "vần điệu" chẳng hạn do đó được thêm bền vững. Năm 1942 bàn về vần điệu thơ mới Hoài Thanh nhận thấy có "luật đổi thanh rất tự nhiên trong thơ Việt vẫn chi phối hết thảy các thể thơ ". [...] Hễ câu thơ chia làm hai ba hay bốn đoạn những chữ cuối các đoạn phải lần lượt bằng rồi trắc hay trắc rồi bằng" (...B/...T/...B/...T/... vân vân...). (2) Ví dụ:

Gặm một mối (T) căm hờn (B) trong cũi sắt (T)
Ta nằm dài (B) trông ngày tháng (T) dần qua (B)
Khinh lũ người kia (B) ngạo mạn (T) ngẩn ngơ (B)
Giương mắt bé (T) giễu oai linh (B) rừng thẳm (T).

Nhớ rừng Thế Lữ)

Nico

Phong trào thơ mới: Cuộc cách mạng thi ca đầu thế kỷ XX - Võ thu Tịnh (1)

Vào đầu thế kỷ XX tiếp xúc với văn hóa Tây phương với sự xuất hiện của chữ quốc ngữ bao nhiêu nền tảng kiên cố về xã hội chính trị văn học của nước ta đều bị rung rinh đổ vỡ. Đời sống hình thức tư tưởng cũng bắt đầu biến dạng và làm thay đổi nhịp rung cảm của dân gian. Các văn nhân thi sĩ bỗng nhận thấy cần phải thoát ra khỏi lề lối "văn dĩ tải đạo" chật hẹp của Nho giáo những qui luật khó khăn về thi ca nhất là Đường luật để cho những rung cảm của mình được diễn tả hào hứng chân thành phong phú hơn. Do đó phát sinh ra "phong trào thơ mới".
Khởi đầu năm 1914 Đông Dương tạp chí số 40 đăng một bài thơ quốc ngữ "Con ve sầu và con kiến" của Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ một ngụ ngôn của La Fontaine mà người đương thời gọi đó là "thơ mới" vì bài thơ này không làm theo thể cách nào của các lối thơ cũ cả. Và một số thức giả lợi dụng chữ quốc ngữ để làm những bài thơ khuynh hướng thời sự có tính cách chống đối bạo quyền như thơ trào phúng cười cợt thế tình mỉa mai xã hội và thơ quốc sự nhắc nhở đồng bào về hiện tình đau khổ của đất nước. Tản Đà đã mượn lời cô Chu Kiều Oanh một nhân vật trong Giấc mộng con để hô hào khuyến khích lối thơ quốc sự nầy: "Cố nhân nên biết văn chương có trọng giá không phải là một sự chơi riêng trong lý thú không phải là sự đùa vui trong phẩm bình mà phải có bóng mây hơi nước đến dân xã. Một tấm thân nam nhi không phải là của riêng của một mình mình mà của nước tổ Hồng Lạc hơn bốn ngàn năm của nhà nuớc bảo hộ đã 50 năm (1) của xã hội 25 triệu người của giang sơn 34 vạn lý".
Trên văn đàn thi ca lúc đó chỉ còn bày ra bề mặt hai khuynh hướng mà nhà cầm quyền thuộc địa cố tình dung túng khuyến khích:

- Khuynh hướng đạo lý chủ trương "không làm chính trị chỉ làm văn hóa giáo dục". Người ta làm thơ thuật lịch sử vịnh sử giáo huấn con trẻ (như Tản Đà) với sách Lên sáu Lên tám làm thơ ngụ ngôn dạy luân lý (như Nguyễn Trọng Thuật...) để nhắc nhở nhau về dĩ vãng oai hùng của đất nước nhằm bảo tồn phẩm cách con người Việt Nam.

- Khuynh hướng lãng mạn than khóc những cái sầu đủ loại: sầu kiếp người trước định mệnh sầu con người Việt đang bị áp bức bóc lột và sầu đất nước đang bị chà đạp xâm lăng. Cả một thành sầu bao vây tâm tư các nhà thơ một thứ sầu lãng mạn bàng bạc trong các bài thơ của bà Tương Phố Trần Tuấn Khải Đông Hồ Tản Đà... trên Hữu Thanh Annam tạp chí Phụ nữ tân văn Nam Phong.

Nico

Thương gửi chị Lâm Cúc

Lâu lâu được đọc một bài nghiên cứu văn học giá trị thấy vô cùng tâm đắc. Ước gì ngồi cùng nhau dưới gốc xoài nơi ấy một ly trà cà phê bốc khóc để cùng thưởng thức gật gù...trong hương xoài gió nội...sẽ tuyệt biết mấy.
Thời đại mới văn chương cũng cần phải có hơi thở sáng tạo mới để phản ảnh được những biến chuyển của thời đại. Mọi sáo mòn sẽ là sự nhàm chán. Tuy nhiên trong đổi mới không có nghĩa là đạp đổ những gì đã "cũ". Có nhà thơ mong muốn sự sáng tạo để thoát mình ra khỏi thơ cũ nhưng chưa đủ độ chín để cho người đọc hoang mang trong sự vụng về của tứ thơ câu chữ...gây không ít những dị ứng với thơ mới.

Nico trân trọng các nhà thơ luôn cố gắng duy trì truyền thống của "thơ cũ" với niêm luật...tìm tòi để diễn tả một cách trôi chảy nhất những rung cảm trong khuôn khổ. (Mà điển hình là sư phụ của Nico đấy là Bác Thiện BS Tản vv...).

Xin phép chị được bổ sung thêm vào đây một bài trích: Phong trào thơ mới: cuộc cách mạng thi ca đầu thế kỷ XX của cụ Võ Thu Tịnh người cùng thời với nhiều tên tuổi thơ ca viết tại Paris năm Bính Dần. Vì bài viết dài nên Nico có mạn phép lược bớt và đưa làm nhiều comment.

Thanh Chung

Thôi mình không làm thơ nữa hu hu

sự nguy hại là mỗi ngày đang có hàng ngàn bản rập khuôn như vậy lại ra đời dưới tên thơ nhan nhản?
---------
LC ui
Ai muốn viết sao thì viết
Chỉ mong đừng làm khổ nhau
Gỗ rừng đem in sách dở
Người đau - cây cỏ cũng đau

(Thôi mình không làm thơ nữa
Buồn vui xả rác lên trời)

Bạn sang nhà mình nhé. Mình vừa nhận được tập thơ mới của anh HĐQ trong đó có bài thơ tặng bạn.