NGUYỄN LÂM CÚC

Cuộc trần ai qua hết
Cười được đủ anh hùng

CÓ THẾ CÒN TẬN MÙA SAU

Có một số loài hoa như Bí Đỏ, Dưa Leo, Mướp…không thua kém bất gì các loài hoa khác về hương, về sắc nhưng chúng lại chưa từng được coi là…hoa.

Thì ra sự bất công không chỉ riêng ở thế giới loài Người.

Nhưng có một điều loài Người không bao giờ làm được còn họ hàng hoa Bầu Bí cứ bơ đi, cứ tỉnh queo, coi sự khinh miệt của khắp thiên hạ không là cái đinh rỉ gì, hàng ngày chúng vẫn cứ rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời như từ khai thiên lập địa.

Người ta vẫn hay rước sự chú ý của người khác hoặc tìm mọi cách để người khác không lọt khỏi mắt mình, nhất là với những đối tượng được coi là nằm trong vùng giao động, dù tần số có thể mỏng như lá Diêu bông. Đôi khi, những điều chú ý có tác dụng sốc như một cốc độc dược, có lúc còn hơn thế, sốc như sốc điện cao thế làm tê liệt luôn cả mưa nắng và nhai trái tim bằng hàm răng của loài chuột cống. Điều lạ là nhiều người nghiện loại độc dược này hệt như nghiện ô mai.

Thôi, ai nghiện gì cũng là độc lập tự do…muôn năm!

Còn tôi, tôi thích hoa Mướp.

Lạy trời. Mướp không kén lắm khi bén rễ trong  mảnh vườn nhỏ xiu và trên loại đất toàn sỏi lẫn với sét của tôi. Hầu như điều kiện ấy không làm khó Mướp chút nào. Sau  ba tháng, Mướp bò xanh um trên bờ gạch, leo tới, leo lui trên cái giàn lỏng lẽo, ẻo ợt như răng sắp rụng một cách tung tăng.

Rồi Mướp trổ hoa. Mỗi ban mai, Mướp hào phóng tặng tôi cả một vùng những mặt trời dịu dàng cùng bầy ong vù vù vô cùng hạnh phúc. Nhiều cái tết nằm ngó mây bay, mơ mái nhà của mình, mơ giàn Mướp trổ hoa từ lúc sao hôm nhấp nháy chuyển sang sao mai mờ dần ở chân trời mà vẫn còn mơ. Ai dám bảo hoa Mướp không mê hoặc dzậy cà?

Cũng lạ, có người suốt cả đời mơ giấc mơ cái cửa sổ mở ra chân trời xanh ngắt, xa xa là dòng sông, bên cạnh dòng sông bãi cỏ non ngọt với một chú nghé đang gặm cỏ…Cánh cửa sổ đó đã khiến một cô bé chồm đến trong một cơn mê sảng vì bị sốt, cô bé đã xé nó rách toạc bởi vì biết rằng nó chỉ là một bức tranh mà ba cô nhờ họa sĩ vẽ vì...không thể tặng cô cánh cửa thật.

Những giấc mơ khi không ngủ là căn bệnh mãn tính của những người bị viêm màng… tim.

            Lúc sắp tết.

            Ngày bỗng khang khác. Hai bốn giờ như được gắn thêm vào bao xao xuyến chẳng rõ vì đâu. Người mơ khung cửa sổ đã có thể đi từ khung cửa này đến khung cửa khác, nhưng bước chân không ngước bồn chồn. Sao thế nhỉ? Bỗng nhiên lại thấy không hiểu mình đang ở đâu trong đời dù đã đứng bên khung cửa mộng mị suốt trăm năm; dù đang ở trong căn nhà mà người xây dựng nó từ những hạt mồ hôi vốn cục nặn thành gạch sau suốt cuộc đời lêu bêu. Lại khát, một cơn khát bừng lên từ trong máu chạy dọc thân thể rồi cuộn trở về tim, nhói lên tận ngọn nguồn thăm thẳm của đời người.

            Cảm ơn thay, hoa Mướp trên bờ rào vẫn vàng như tơ nắng và có thể hoa vẫn vàng mơn man như thế cho đến tận mùa sau.


ĐI TRONG SƯƠNG MỜ

Tản văn

Sáng đầu xuân trời bất ngờ giăng sương mờ, thổi vào các khung cửa hơi thở se se lạnh. Những con chim sẻ siêng năng vẫn nhảy nhót, kêu bầy ríu rít trên cành sari um tùm, chúng xem những sợi sương mỏng manh là trò đùa vô vị. Bảy giờ, tiếng hót của chú chào mào lơ lửng đâu đó trong dòng sương huyễn hoặc. Chợt nhớ hôm lên đỉnh Bà Nà đi trong sương mù mờ mịt hệt như đã chạm mặt vị Chúa quyền năng huyễn hoặc đang lẩn khuất đâu đó trong màn trắng giăng giăng tận cùng trời đất.

Sương khỏa lấp tất cả mọi khiếm khuyết của vạn vật, vì vậy, trong tấm voan hư ảo, những cành cây khẳng khiu bỗng trở thành những tượng đài biểu tượng tuyệt vời, hoàn hảo cho sự cô đơn.

Cảnh vật vì thế càng trở nên diễm lệ đến khó tin.

Chỉ có con người trong sương mờ bỗng thấy mình nhỏ bé, hun hút. Hệt như thế giới bỗng chỉ còn có một sinh linh thoi thóp là chính mình mà thôi.

Người ta rất biết tận dụng sự lờ mờ không chỉ của sương khói mà còn là những quan niệm, những khái niệm. Ví dụ như khái niệm về tình yêu chẳng hạn : Trái tim chia ra làm tư, làm năm, phần này để cho trách nhiệm, phần kia để cho nghĩa vụ, và phần ít nhất để iu nhau…Hoặc người ta nói: “Một nửa sự thật không phải là sự thật”. Nghe vừa có lý vừa bí hiểm, đồng thời còn mang dáng vẻ sang trọng của hiền triết nữa. Trong khi đó, một nửa sự thật là sự thật đã đạt đến một nửa, chỉ tại người tin cứ tin rằng mình biết cả đó thôi.

Con người biết đến đâu?

Có lúc, tôi từng nghĩ mình biết chút ít về sự sống, về nhân tình, về thời cuộc, về …vv. Nhưng…lúc này đây, tôi thành thật xấu hổ thừa nhận tôi hồ đồ cả tin. Hay nói cách khác, cái biết của tôi thực là “đáy giếng nhìn trời xanh”. Ví dụ như biết về sương mù chẳng hạn. Chưa lên đỉnh Bà Nà cứ nghĩ sương dày đến đâu cũng không thể tạo thành mưa. Sai bét. Mưa sương trên độ cao một ngàn bốn trăm mét ở Đà Nẳng ngoạn mục vô cùng và có thể làm ướt đẫm mọi tâm hồn sa mạc ngàn năm. Và  rất có thể, cuối màn mưa kia là cổng Thiên Đường với muôn ngàn kỳ hoa, dị thảo cùng bát ngát hương thơm ngào ngạt sẽ mở ra?

Từ lúc ý thức được, tôi lúc nào cũng canh chừng mình, ngó trước, ngó sau, nhìn phải, nhìn trái : “ Ăn trông nồi, ngồi coi hướng” chỉ để mong được ai đó nói rằng chị đó giống phụ nữ. Trời ạ. Lại sai bét. Được sanh ra làm người thì tôi phải sống, phải hổn hễn từng hơi thở, phải đớn đau từng giác quan cảm nhận, phải nếm cho bằng đủ mọi mùi vị thế gian mới không uổng kiếp người. Sao tôi lại không dám sống mà mơ chi thành tượng đá lúc đương thở thoi thóp dậy cà? Tôi là nữ, không giống nữ thì là hai lai à? Lời khen, tiếng chê cũng như sương mù và uy lực của nó thật gớm ghê. Nó mỏng manh, nó không hình dạng mà có thể bó chặt đời người đến thành gỗ đá ngây ngô.

Cứ sợ người ta quên mình khi đã chết đi mà không hay rằng lúc đang nhìn nhau đây, thấy nhau đây cũng đã quên nhau mất rồi.

Tôi đã đi trong sương mờ. Tôi đi như thế trên con đường của mình để nhìn thấy tất cả chỉ là không hề nhìn thấy chính tôi.

Hay cũng có thể, tôi không thấy gì ngoài một màn sương huyễn hoặc do chính tôi dựng nên, hoặc do đời tạo thành nó vây bủa quanh tôi?

Trong sự lờ mờ đó, tôi tin từng ngày từng giờ, từng giây phút rằng : hãy cố gắng lên. Hãy siêng năng hết mực để có một tương lai, để ngày mai sẽ sống…Giời ạ. Cứ thế, tôi lao vun vút. Cứ thế, tôi cắm cúi đi về phía ngày mai. Nhưng…ngày mai là cái ngày nào? Tôi bỏ lại sau lưng tuổi thơ, thời xuân thì mà không hề biết chính tay tôi ném tất cả vào quên lãng, vào nối tiếc rồi tự mình ngậm ngùi.

 

 

 

 


MÙA XUÂN TRONG MƯA BAY

( Thay lời chúc mừng năm mới và Tết Nhâm Thìn đến tất cả Quý anh chị, bè bạn.NLC)

 

Mưa bay lất phất khiến con đường nhỏ lên Thánh Địa Mỹ Sơn càng thêm huyền ảo, u tịch giữa rừng. Bên đường, vài bụi lá nón xòe tay che mưa cho bầy kiến  nhỏ. Chúng hầu như chẳng liếc đoàn người nối nhau với đủ màu sắc  một lần nào.

Quần thể đền đài ẩn hiện trong sương mờ và mưa bay. Những cây sầu đông trụi lá vươn những cành xương xẩu lên bầu trời như những đôi cánh tay buồn mang mang. Trên đó, từng giọt nước nối nhau nhỏ xuống nghe như tiếng than thở mơ hồ trong tầng không. Phía sau, xa xa những ngọn núi nhấp nhô xanh thẩm như ôm ấp, vỗ về và rì rầm không nguôi những lời  an ủi cho một thời đã ngủ yên.

          “ Người xưa đâu? Mà Tháp thiêng cao đứng như buồn rầu? Lầu các đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu?”. Câu hát này tôi vẫn thường hát ở bất kỳ lúc nào nó chợt phún trào lên môi. Nhưng từ khi ở Mỹ Sơn về, tôi mới bắt đầu ngấm hồn thiêng của những đền tháp buồn rầu ngẩn ngơ cùng mây bay, gió thổi ngàn năm.

          Có thể “ Người xưa” không còn ai ở đây bởi trút hơi thở là hết.

          Có thể “Người xưa” vẫn quanh đây bởi cái chết không thể giết linh hồn.

          Nhưng dù như thế nào, Họ cũng đã từng ở đây, từng rất oai hùng, sang trọng; từng ca hát và trầm mặc như chứng tích còn kia! Những gì còn lại không phải là một sự thách thức, mà là thông điệp gửi cho bất kỳ ai có thể đến nơi này một lần để nhìn ngắm và mộng mơ ngược về thăm thẳm, ngược về phía khi ta là gì không ai biết!

          U buồn và nghiêm trang là những ngọn tháp. Chúng ngẩn ngơ và cô độc, nhưng  hình như vẫn còn điều gì đó trên bầu trời khiến cho chúng chìm đắm trong suy tư mà câu trả lời còn lẩn khuất đâu đó trong mây xám, tầng tầng lớp lớp tản mác về bốn phương. Lặng lẽ và trầm mặc là những cột đá mang hình Linga. Chúng nhớ thương không hề nguôi chăng? Yoni hỡi, những gì còn lại có phải chính sự nối dài mà Nàng từng sanh ra? Một sự sống nối dài chính là điều vĩnh hằng chứ không phải là một Cõi nào khác?

          Lang thang dưới những phế tích đền đài Mỹ Sơn, tôi hiểu một khía cạnh khác của hai cực Âm và Dương, một điều chẳng ăn nhập gì với tín ngưởng, tinh thần của các chủ nhân Thiên Cổ nơi này. Bởi vì, một tiếng sét ngang trời làm lóe vệt sáng đầy nộ khí. Sự kết hợp của hai cực điện Âm, Dương vừa xảy ra và đã mang lại lửa cháy, tiếng nổ, sự xé toạc. Có thế còn hơn thế nữa, nếu sự kết hợp đó ở gần hơn với con người và vật thể khác.  Như thế, Linhga và Yoni ra  của nơi này không hề là vật thể đại diện cho âm và dương, vì khi hai linh vật ấy kết hợp với nhau thì sự sống mới sẽ ra đời, tương lai sẽ được tiếp nối chứ không phải là một sự đe dọa.

          Ở đây, con người được đưa lên ngôi vị cao nhất trong đời sống tinh thần. Ở đây, Linhga và Yoni không bị phỉ báng, không bị xem là vật xấu xa mang lấy, hoặc ẩn chứa  tội lỗi. Ở đây, không có sự lời nói bóng bẩy ngụy trang lên điều tự nhiên gắn với con người đời đời kiếp kiếp.

          Sự ngụy trang ấy xuất hiện từ khi nào nhỉ? Bởi người xưa đã chẳng gọi loài vật có trí thông minh, biết tính toán đo lường, lươn lẹo chi li là CON NGƯỜI đó sao. Nghĩa là CON trước rồi mới thành người nhưng suốt đời CON VÀ NGƯỜI không thể tách rời nhau mà hòa lẫn trong một bản thể?

          Người xưa thật tỉnh táo biết bao!

Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng những đền đài ở Thánh Địa Mỹ Sơn có mặt từ trước thế kỷ 13, nghĩa là, gần một ngàn năm trước tiền nhân đã tỉnh táo hơn con người hôm nay. Họ tôn thờ, khắc cốt ghi tâm chỉ có tình yêu và biểu tượng của đôi lứa mà thôi. Ở đó, không, hoặc tôi chưa thấy các biểu tượng liên quan đến chiến tranh, hay gợi ý đến các cuộc chiến. Con người của thời Linhga Yoni trên bệ thờ kia có thể gọi là Thượng Cổ, cũng có thể gọi là còn ăn lông, ở lổ, bởi vì nhiều hình ảnh lưu lại của thế kỷ mười tám, mười chín cho thấy dân Việt Nam, từ Bắc vào Nam còn hoang dại lắm, thì thế kỷ mười ba gọi  là người Cổ đại thì rất đương nhiên rồi. Nhưng lúc đó, tiền nhân ngoài việc tôn thờ tình yêu họ còn chú ý đến những chất liệu, xử dụng thành thạo các kỷ nghệ xây dựng để đền đài của họ trơ gan cùng Tuế, Nguyệt.

Có lẽ, càng về sau chúng ta càng mất đi nhiều thứ chứ không đạt được vuông tròn, mỹ mãn như đã tự kỷ ám thị.

Người ta không nuôi dưỡng trong trái tim một giấc mơ thánh thiện, cho dù giấc mơ đó bé nhỏ như đóa hoa tím mỏng manh, run rẩy bên lề cuộc đời, thì trái tim sẽ thành miền hoang vu, cỏ dại, gai góc đua nhau mọc và thú tính tha hồ gặm nhắm phần còn lại.

          Nhưng người ta phần lớn dành thời gian cho những cuộc chiến tranh dù chỉ để thắng một câu nói, để hơn một li thỏa mãn. Họ coi yêu thương là thứ yếu và dành cho nó những mẩu thừa, đuôi thẹo trong cuộc đời. Trong khi đó, đáng lẽ ra nên dành hết cho tình yêu và suốt đời chỉ nên toan tính một việc thôi đó là làm tình nhân của nhau. Nhân loại toàn thể. Người người tất thảy, nếu có thể đều trở thành tình nhân trong từng giây phút một, thì chắc chắn đó chính là mùa xuân.

11/1/2012


ĐỌC LỤC BÁT THUẬN NGHĨA

 

nlc

Lục Bát là thể loại thơ được đông đảo người đọc, nhất là giới lao động chân tay thích một cách đặc biệt  bởi vần điệu ngân nga, rất dễ thuộc. Nhưng những người bụng đầy chữ nghĩa, hay gọi cách khác là giới “hàn lâm, khoa bảng” lại vô cùng kén chọn khi đọc Lục Bát bởi trong số họ rất nhiều người cho rằng sự mỏng manh rất khó phân biệt Lục Bát đã làm không ít những bài được gắn tên thơ lạc sang Ca dao, Hò, Vè…  Bởi vì hò, vè, ca dao …nhân gian Việt Nam phần lớn đều nằm trong thể thơ Lục Bát:

       “Trèo lên cây bởi hái hoa

          Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”

 

          “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

          Người chung một nước thì thương nhau cùng.”

 

          “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

          Bao nhiêu tất đất tất vàng bấy nhiêu”

         

          “Công cha như núi Thái Sơn

          Nghĩa mẹ như nước trên nguồn chảy ra”

 

          “ Đi mô cho thiếp theo cùng

          Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam”

 

          “ Chàng ơi buông áo em ra

          Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa”…

          Cũng có nhiều người cho rằng,  nếu không lạc vào những “mảnh đất màu mỡ’ của ca dao, hò, vè  thì người viết dễ sa vào “mê hồn trận” bởi  cái bóng bao la của những cây đại thụ Lục Bát như truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Tại sao người ta không gọi ông Nguyễn Du là đại Văn hào khi tác phẩm để lại của Ông là truyện Kiều, điều đó đã được giải thích, bởi hàng trăm câu lục bát trong truyện Kiều đều là những câu Thơ Lục Bát  kinh điển. Nhiều câu, được người đời tách hẳn ra khỏi truyện và đứng riêng thành những câu thơ hoàn chỉnh, đẹp long lanh như bích ngọc. Thậm chí, nhân gian còn đem truyện Kiều ra làm bói toán, tay người dở trang nào, chạm vào câu nào thì cứ những câu ấy mà giải thích, mà “vận” vào mạng số của thế nhân.

          “ Trăm năm trong cõi người ta

          Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

            Cỏ non xanh tận chân trời

          Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Nguyễn Du

Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng nằm trong số những câu Lục Bát được người đời truyền tụng, lan tỏa và nhân bản những câu na ná ở khắp nơi, hệt như nhân bản động vật của giới Khoa học Sinh học. Đó cũng chính là lý do lục bát dễ viết. Vì khuôn mẫu sáu, tám ráp theo vần thuận lợi đã đành, mà còn sẵn khuôn mẫu giai điệu, ý tứ, hình tượng…Cho nên, viết  Lục Bát rất nhiều nhưng viết thật mới, thật hay, đọc phải a lên vì kinh ngạc thì quá hiếm hệt như tìm ngọc trong bãi nhiều đá cuội có màu sắc và hình dáng cầu kỳ.

          Cuối thế kỷ Hai mươi, đầu thế kỷ Hai mốt, cố nhà thơ Đồng Đức Bốn đứng vững với thơ Lục Bát và có những câu đọc một lần in sâu vào trí nhớ bởi những câu chữ đơn giản, giàu cảm xúc như “Chăn Trâu Đốt Lửa”

          “Chăn trâu đốt lửa trên đồng

          Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều

          Mải mê đuổi một cánh diều

          Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.”

          Sự xuất hiện của nhà thơ Đồng Đức Bốn khiến người yêu thơ Lục Bát vui mừng.  Phần lớn thơ của Ông đều thể hiện bằng Lục Bát. Rất nhiều bài hay, và có những bài chỉ vỏn vẹn hai câu. Tuy nhiên, trên bầu trời luôn có đủ chỗ cho những ngôi sao tỏa sáng. Người đọc ngóng đợi những cây Lục Bát khác xuất hiện…

Với tôi, Thuận Nghĩa là một cây Lục Bát với ngôn ngữ nhiều bí ẩn, bất ngờ, sung sức:

         “Nén này đốt những phân vân
            cho muôn xa ấy thành gần kề bên
            nén này cúi lạy dịu hiền
            ngày sau đền tạ cõi miền thanh cao”

 Người ta đã đốt rất nhiều thứ: rạ rơm, điếu thuốc cháy đến vàng tay, rừng rực cả cánh rừng…là những vật sờ được, nắm được. Cũng rất nhiều vật hư vô như cháy hết hoàng hôn, đốt rụi tâm tư, nướng vàng cảm xúc…Thuận Nghĩa đốt thêm “phân vân” thành nén, khỏi tỏa nghi ngút tất lòng để mong sao những điều chưa thể quyết định, còn chần chờ, còn day dứt ấy thành làn hương khiến cho muôn xa về gần kề, cho bao cách trở thành liền nhau, xóa mờ những khoảng cách. Và rồi, cũng chính lúc làn hương ngát phân vân lan tỏa, thì dịu hiền lên ngôi và trước dịu hiền con người bỗng thành tâm, muốn đền tạ hết thảy kể cả cõi miền thanh tao. “Cúi lạy dịu hiền”, “đốt phân vân là”… là những cụm từ, những tứ thơ Lục Bát thật mới mẻ mà tôi đọc được lần đầu ở thể Lục Bát do Thuận Nghĩa viết. Anh viết dễ dàng, sung mãn, hệt như những câu Lục Bát nằm sẵn trong túi áo, và lúc nào cũng rủng rẻng, chỉ cần thò tay vào lấy ra, trình bày kiểu này, hay kiểu kia cho bạn bè, thiên hạ ngắm chơi. Ví dụ như vài bài mới nhất, trong cuối năm 2011 này của Anh:

 “Cho dù em cứ là ai
cái đêm mụ mị đủ lai rai buồn
 
Trót mùa dặt dẹo mây nguồn
trời xòe góc thiếu ráp luồn vào đâu?
     
…Em bồng một đóa nắng ngày
đong đưa tận chót khói mây đã từng
 
Anh nhặt đủ nhánh dửng dưng
vẽ em vào giữa muôn trùng nhạt phai”…

Trích “ Lẻ một người quen”-TN

 Ngửa ra cái thớt chiều hôm
bằm dăm sợi nắng chẻ nồm luồn mây
     
Này em chín đến tận chưa
để anh còn đợi kẻo thưa ngày vàng
  
Thương nhau trả chuyến đò ngang
chuộc thân đò dọc khỏi sang bến buồn
     
Chiều rơi cái vạt à uôm
thớt mình đau nhát gió luồn chém không…”
     
                                                                               Trích “Chuyến Hạ”

 

Ngày đi táng tận nỗi buồn
cánh con chuồn ớt nhấp chôn hạ gầy
  
Trắng em cúi chắp bàn tay
niệm xưa thắp lại nén mây tiễn mùa…
  …Chờ rằm trăng lột trần truồng
ôm cơn khát lỡm dội tuôn nồng nàn
   …Nại hà đắp mố cầu kiều
húp tô cháo lú để liều cuộc em
  
Đầu thai thành cái chụp đèn
chắn che phía gió mới nhen lửa tình.

  Trích “ Tàn Tạ”-TN
   
28.07.11

 …Thôi về lắng khóm lưng đồi
nghe con bìm bịp ngỏ lời tịch dương
     
Còn duyên hứng vốc trăng gầy
gom mùa độ nọ nhặt ngày còn dư
   
Tận duyên đợi giữa bất ngờ
muôn ngàn không thể, cũng chờ. Biết đâu
        
Chưa từng lăn lộn mực đen
cà sa thành mảnh lấm lem. Báu gì
   
Nếu đời chỉ có từ bi
lấy đâu Chúa, Phật rậm rì tụng kinh
   
Biết "em" bánh vẽ lung linh
cớ sao không thể lừa mình cơn yêu
 
Tồn sinh nhón bỏ nhẹ hều
ao choèn sợ nặng cuộc liều với em…”

 Trích “ Về Đồng” 10/7/2011- TN

 Cả ba bài Lục Bát trên Thuận Nghĩa đều viết trong đầu tháng 7/2011.  Rất mới. Những bài Lục Bát của Anh đều dài hơi và “kho” tồn trữ của Anh ngày càng nhiều. Anh còn viết hàng trăm khổ Lục Bát bốn câu đặt tên là “ Níu xưa Lục Bát đôi câu” Cái tựa giống cô gái quê lên thị thành thảng thốt ngoảnh lại nhìn mái gianh, ở đó, giọt nước ngày mưa đang loang vỡ nhớ thương, trong bóng nước, hình dáng mỏng manh của ngôi nhà, của hàng cây cứ đong đưa cùng niềm hy vọng mơ hồ luôn phập phồng.

Có thể đọc Lục Bát Thuận Nghĩa đến…no mà vẫn còn cảm giác thòm thèm như đang dở bữa. Cảm giác này từng xảy ra khi bắt gặp quyển sách hay, truyện ngắn đắc ý.

Phần lớn thơ của Thuận Nghĩa đều nói về Em, đều có bóng dáng Em và đều có Anh, trong một mối tình với tất cả các cung bậc thăng, trầm luyến lưu nặng trĩu như sương đẫm mặt lá ngày đầu Thu. Thấy ở đó, bóng dáng  con người cô đơn, lẻ bước đi trên con đường hun hút, chiếc bóng đổ dài. Bầu trời nhiều mây. Nắng nhọc nhằn len lõi qua các kẽ lá. Sông nước vắng bóng con đò. Vắng tiếng người. Chỉ có bầy chim nhao nhác bay về nơi vô định. Khung cảnh nhiều dằn vặt, nhớ thương và mơ hồ. Khung cảnh đó vừa như là có thực vừa như chỉ là cõi hư ảo do người viết bằng cách riêng của mình lạc vào và dẫn dắt người đọc theo. Vì thế, Em trong thơ vừa là một Em nào đó từng gắn với chính tác giả, cũng vừa là em của thế giới mộng mơ. Một giấc mơ không nguôi và chưa bao giờ tròn trịa.

Nhưng tôi nghiêng về phía tác giả “mơ” hơn là “hiện hữu”  bởi ngôn ngữ thơ Thuận Nghĩa đậm chất Thiền. Nghĩa là, trong “giấc mơ hoa” của những người tịnh tâm do Thiền, họ dẫn dắt tình cảm của mình về phía “giải thoát vào một cõi nào đó”  hơn là tả thực. Hay nói cách khác, Em  trong Lục Bát Thuận Nghĩa chỉ là một sự giải tỏa tâm lý, giải tỏa nỗi niềm kiếp người hơn là một Em da trắng, môi hườm, mắt tím Huế.

 "Trời mù tôi cũng mù tôi
thâm thâm lá rụng rớt lời nắng phai
    
Mù trời lóa một thành hai
em, tôi:  ai đã rõ phai hình hài
     
Soi mình một niệm thiện tai
như trăm kiếp trước còn dài tới nay…”
  

Trích “ Mù Em”-TN

 Có rất nhiều cách để thưởng thức Thơ. Nhưng khách quan nhất vẫn là đọc bài Thơ bằng văn bản. Khi ấy, chỉ có chữ, nghĩa, ý, tứ, nhạc điệu, cảm xúc, hình tượng do tác giả gửi hồn vào câu chữ tạo thành chứ không bị âm thanh, giọng điệu, khung cảnh diễn thơ chi phối, tác động làm sai lệch hay ảnh hưởng. Đọc Lục Bát Thuận Nghĩa càng nên đọc bằng văn bản. Khi ấy, người đọc đối diện với những câu chữ mà dòng sáu, dòng tám tạo ra các bất ngờ hệt như bước trong rừng hoang. Cái gì sẽ xảy ra sau mỗi câu chưa đoán định được. Chữ gì và ý gì đi cùng với câu vừa trôi người đọc khó duy diễn, vì ở đó không có, hoặc chưa tìm thấy dấu vết lối mòn.

…Bi chừ trống bỏi lên cơn
thò tay đụng cái tủi hờn kéo dao…

 …Không dưng muốn gọi tên người
để nghe em dạ trong lời gió sương
 
Vén mây xem nắng cởi truồng
quấn trăng cho đỡ thẹn thuồng nhiều khi…”

 “Chẻ tiếng chuông chuốt thành ngày
trang kinh xé xếp thành bầy chim di
thả trôi sông sóng rầm rì
bọt rêu vỗ vả tìm về bến tơ”

 Tôi cảm thấy hơi tiêng tiếc cho người đọc,  vì anh Thuận Nghĩa dùng nhiều từ mang nghĩa Hán- Việt và ngôn ngữ Thiền, Nhà Phật và Phương ngữ… vào trong thơ nên một số người đọc cho rằng, thơ Thuận Nghĩa khó hiểu:

… “Một hôm về đứng cuối ngàn
hình như em rụng thành tràng kinh tôi”

Trong cuộc sống, có rất nhiều lý do để nhiều người chưa bao giờ biết kinh là gì, giờ kinh là giờ nào và có ý nghĩa gì. Họ cũng chưa từng dự, hay đọc bất kỳ lời kinh của tôn giáo nào. Vì vậy khi anh “ đứng cuối ngàn”. Nghĩa là ở tận cùng, mơ màng thấy như là “ em rụng thành tràng kinh tôi”, dù chữ rất thuần Việt, thì nghĩa vẫn mông lung với những ai chưa từng ngó thấy tràng hạt, hay nguyện kinh vì một lý do nào đó? Mặc dù, “ em rụng thành tràng kinh tôi” là câu thơ giàu biểu cảm, rất hình tượng.

Hoặc như câu Lục Bát sau:

  “Rút mây đan cái ngảo chiều
hứng thu nhốt rọ khỏi rêu rao vàng
bệt ngồi vạt chớm mùa sang
nhìn con én dại cuối ngàn lạc bay”

 “Cái ngảo”  là Phương ngữ. Đây là tiếng của người Quảng Trị- Quảng Bình. Ngảo là một cái hệt như cái rổ tre nhưng nhỏ hơn cái rổ rất nhiều. Cái ngảo chỉ bằng cơi đựng trầu, chính vì thế cũng có nhiều bà cụ miền Trung dùng cái ngảo để đựng trầu. Còn thông thường, cái ngảo tre dùng đựng rau sau khi rửa, đựng nhúm ớt, nhúm tiêu vừa hái hoặc đựng vài ba quả cà…

Thế mà Thuận Nghĩa lại dùng mây óng ánh ngũ sắc để đan cái “ngảo chiều” rồi dùng cái “ngảo” ấy hứng lấy Thu đem về nhốt trong “rọ” cho mùa Thu đừng vàng nữa. “Rọ” cũng là Phương ngữ của hai Xứ trên. Rọ đan mằng tre, bằng mây và dùng để nhất heo, nhốt chó, nhốt gà. Chỉ riêng Thuận Nghĩa là đem “rọ” nhốt  mùa Thu. Trời ạ. Nếu mà bưng được một “ngảo” Mây, tôi chắc tôi sẽ bưng về chốn thị thành cho thiên hạ một phen ngây ngất.

... “Tuổi buồn còn đó. Xin thưa!
mắt anh thất bát trên mùa hạ rong
hình như có ngọn đòng đòng
dậy thì trên vạt mòng mòng tháng năm”

 Trong bốn câu Lục Bát trên, hai chữ “thất, bát” tuy là từ  Hán- Việt nhưng lại có nghĩa là mất mùa chớ không hề mang số bảy, số tám. “ Mắt anh thất, bát trên mùa hạ rong” từ đó mới hy vọng, trong hy vọng, kỳ vọng mơ màng một dậy thì :

“Hình như có ngọn đòng đòng
dậy thì trên vạt mòng mòng tháng năm”

Người ta ai cũng có cảm xúc. Và ai cũng có thể xúc cảm trước một sự việc, cảnh sắc, con người, hay một tình huống, không gian, thời gian nào đó. Tuy nhiên, có những cảm xúc chỉ âm thầm diễn ra trong tâm trí ai đó. Có những cảm xúc được thốt lên bằng lời thầm thì, trầm trồ. Và chỉ thành Văn khi người ta dùng lời Văn để viết lại, kể lại. Chỉ thành thơ khi dùng ngôn ngữ Thơ. Mà ngôn ngữ thơ thì đã được đúc kết rằng “ Đó là kết tinh, đỉnh cao của tiếng nói, chữ viết” bởi vì, ngôn ngữ thơ:

“ Tôi khóc chân trời không có người bay

Và khóc những người bay không có chân trời”

Thơ Trần Dần

Hai câu thơ của nhà thơ Trần Dần, nếu là Văn thì có thể viết hàng chục trang mới nói hết ý, nhưng chỉ hai câu thơ dồn nén, để người đọc tự bung mở, chiêm nghiệm, nhà thơ đã làm xong tác phẩm của mình.

Xin được kết thúc bài viết bằng bốn câu Lục Bát khác của Thuận Nghĩa và mời bạn tìm Thuận Nghĩa để đọc ở  đây:

http://thuannghia.vnweblogs.com/

  Vì tôi chưa thấy thơ Thuận Nghĩa đăng ở đâu. Có lẽ do Thuận Nghĩa đang định cư ở Đức và xem việc viết Thơ chỉ là giải tỏa mình.

“Đành thôi đập vỡ cuộc chờ
khẩy tìm cái hạt bất ngờ trong nhau
bạn ơi nhẹ mũi dao sau
máu hồng không nhuộm bạc đầu thành xanh” TN

 

8/11/2011

 

 


NHÂN CHỨNG

 

Truyện ngắn NLC

Tôi không phải là Thượng Đế.

Tôi là một gã đàn ông cao nhong nhõng, da đen tai tái, có hàm răng trắng đều như bắp được mùa và mái tóc dày lúc nào cũng bất trị. Với tất cả vóc dáng, đôi mắt màu hổ phách, kèm theo những lời xuýt xoa của các cô bạn cùng thời, cùng làng, cùng học, tôi vẫn cứ là một gã vô duyên, trôi tuột trên tất cả mọi cơ hội vẫn luôn tung tăng đâu đó quanh tôi. Vì vậy, lúc này tôi đành ôm một chiếc honda và ngày ngày ngó láo liên không ngớt chung quanh để tìm những đồng bạc lẻ từ tay các vị khách mà có cả lừa lọc, phỉnh nịnh tôi mới chở được họ.

Hôm nay là một ngày không may mắn nữa đối với tôi. Gần mười giờ sáng mà tôi chưa chạy được cuốc nào. Chiếc bánh mì lúc 5 giờ với ly cà phê đen của bà Búm gốc me đã đòi thay thế một cách ồn ào trong bụng. Tôi nhìn ngược, nhìn xuôi trên mọi con đường nơi ngả tư tôi đang đứng và mừng rở nếu có một người xuất hiện. Tôi tin mình nhìn rất chu đáo, không ngừng nghỉ phút giây nào về mọi hướng vậy mà không hề biết chị đã xuất hiện từ lúc nào chỉ đến khi mùi nước hoa bay thoảng, tôi ngoái lại thì chị đã đến rất gần, tà áo mỏng lất phất một chút gần nơi tay chị đang đong đưa. Tôi mừng. Đây hẳn là người khách tôi đang đợi cháy ruột.

- Xe không…?- Tôi không biết nên gọi bằng chị hay bằng cô nên đành nói trổng trổng.

- Cảm ơn anh. Nơi tôi cần đến đã đến rồi.

Tôi thấy tim mình bỗng chộn chạo, nhoi nhói thất vọng. Lạ. Sự thất vọng này không giống những lần khác mời rớt nước miếng mà khách vẫn cứ nguây nguẩy. Tôi thất vọng vì không được chở chị, không được hưởng cảm giác chị sẽ ngồi sau lưng tôi, thật gần, và có thể, hơi thở của chị sẽ chạm vào gáy tôi, và…tôi đỏ mặt vì ý nghĩ của mình cứ mỗi lúc càng tuột tuốt hệt như đứt giây thắng. Trong vài giây, tôi đã nhìn chị lâu đến mức có thể. Nếu bảo chị nhiều tuổi thì quả đã có tuổi, mái tóc đã có một chút phai màu, đỏ nhàn nhạt nơi thái dương chứ không đen nhưng nhức như sau gáy. Nhưng cũng có thể chị còn chưa đến bốn mươi, bởi màu da hồng trắng chỗ dưới cổ và trên đôi má cứ phơn phớt mịn màng. Chị không đẹp. Đúng như vậy, bởi cả gương mặt không có nét nào đặc sắc kể cả chân mày. Nhưng nếu nói chị xấu lại càng không đúng, từ giọng nói đến cánh tay đong đưa khi chị bước và ánh nhìn cứ hun hút khiến tôi khó rời mắt khỏi chị. Tôi cảm thấy nghẹt thở mà chẳng vì lẽ gì cả. Giật tia mắt khỏi chị, tôi lia một vòng sau câu chị nói “ Nơi tôi cần đến đã đến rồi”. Trời ạ. Chẳng lẽ chị đến tìm tôi. Phải chăng tôi với chị có duyên gì đó với nhau. Không. Ý nghĩ ban đầu, nhanh như tia chớp sẹt qua tâm tư đầy bóng tối của tôi là tôi với chị có họ hàng gì đó với nhau mà bây giờ mới tìm thấy. Nhưng cũng nhanh như một tia chớp, tôi quẹo ngay ý đó vào chữ duyên.

Nơi tôi đang đứng đón khách là trước cổng một công sở, từ trong đó bước ra một người đàn ông mà nét mặt không thể nói là âm hay dương. Người đàn ông cũng giật mình đánh thột, cũng ngạc nhiên không kém gì tôi khi nghe tiếng chị chào mướt rượt.

- Chào anh. May quá. Không phải vào tìm mà đã được gặp anh rồi!

- Ơ…Em lên khi nào?

- Em vừa mới đến tức thì đó anh.

- Em lên công tác à…?- Tiếng của người đàn ông càng lúc càng thiếu tự tin. Chị nói nhỏ, nhưng thật rõ ràng như một lời thông báo đầy giông tố trong cơn gió vừa bắt đầu thổi.

- Em đi tìm anh!

- Em lại đùa rồi.

- Em không đùa chút nào.

- Thôi. Lên tìm anh thì…anh mừng rồi- Chữ mừng trong câu nói của người đàn ông giống một tiếng rên dù đã cố kìm nén mà vẫn xì ra. – Chúng mình tìm nơi nào ngồi đi em, đứng đây coi sao tiện?- Có vẻ như anh ta đang tìm một con đường nào đó để thoát khi đưa ra đề nghị trên. Tôi chỉ muốn la to, chị ơi, không cô ơi, không, em ơi đừng tin lời ông ta. Ôi. Tôi sao vậy kìa. Họ là ai của tôi mới được chứ?

- Cảm ơn anh. Nhưng em chỉ có mấy lời nói xong là xong, không tiện ngồi ở đâu cả.- Tôi hớn hở vì chị đã bung lưới bủa vây trùng trùng bốn phía gã kia lại. Đừng hòng thoát khỏi sự trừng phạt nhé, tên kia.

- Em có vẻ căng thẳng?- Gã lại hỏi một câu như một mũi thăm dò tìm lối thoát.

- Em rất bình thường. Thậm chí, lúc này là lúc em rất thanh thản. Em chỉ muốn giải thích cùng anh một vài chi tiết và chuyện chúng mình thật tóm tắt- Chị đã bắn. Những viên đạn bay cheo chéo không hình thù. Mặt gã kia lúc này dài dại. Rõ ràng, gã đã tìm mọi cách tránh né nhưng đạn vẫn ghim đầy ngực. Để cứu vớt gã, tia mắt tôi bay vọt lên ngọn cây xà cừ xum xuê và đầy bóng nắng đang xuyến xao ở trên đó.

- Em sẽ không bao giờ phải nhìn thấy tên em sáng lên trên điện thoại của anh và cũng không còn động tác nhìn nó reo đến kiệt sức với nụ cười nhếch trên môi.- Chị bắn từng viên một, rã rời. Người đàn ông gắng gượng chống chế- “ Sao em biết. Bậy bạ không hà”

- Anh à. Không nghe, không biết, không hay là một thái độ rất bình thường. Rất Người đó anh. Khi đã muốn “xù” thì lãng xa và im lặng đến khó hiểu là tư duy vượt trên mọi tư duy đúng không anh? Anh chẳng có gì sai cả. Người mà không vì chính mình thì…sao gọi là người được. Yêu ai cũng chẳng bằng yêu lấy bản thân. Để anh hoàn toàn yên tâm, em đến để nói với anh rằng anh cần băng khoăn chút nào nữa, kể cả hoang mang mơ hồ về em. Đó là món quà sau cùng em tặng anh.

- Em quá lời rồi đó- Gã loạng choạng ôm ngực rên rỉ.

- Anh nói đúng quá đi. Em đã quá ngưởng của em. Nhưng anh à, anh thật hoàn hảo, kể cả khi rủ bỏ nhau anh cũng hoàn hảo. Anh à, em từng nghĩ, anh biết nhiều lần, nhiều thân thể phụ nữ khác nhau. Có lẽ, khi lột bỏ những sự che đậy, sự trần truồng tầm thường mang đầy khiếm khuyết người ta khao khát một cái gì khác hơn, cư ngụ sâu thẳm đâu đó bên trong thân thể, cái gọi là tình yêu chẳng hạn. Nhưng có lẽ, về khía cạnh này em mới chính là người hồ đồ chứ không phải anh. Thôi. Anh bình an nhé. Em đi đây.

Sau câu nói, chị bỏ chạy về phía nắng đang chói đến lóa. Người đàn ông sững sờ chút ít. Có lẽ hơi ngượng. Anh ta buông thõng một câu như ném đá xuống đường “Gớm. Cũng như nhau cả thôi chứ danh giá gì”.

Tôi ngẩn người ngơ ngơ như ai đó vừa lấy mất của tôi một cái gì rất đau đến khi sực tỉnh thì chị đã lên một chiếc xe honda ôm khác, chiếc xe phì ra một bụm khói trắng xóa nhòa bóng chị và mất hút khi xuống dốc.

Tôi ơi, sao tôi lại trở thành nhân chứng một cách vô hồn trong đời chị? Tôi nổ máy phóng như bay về phía chị vừa khuất dạng với niềm hy vọng không tuột mất chị.

Thượng Đế, nếu Người nhìn thấy, xin hãy dẫn dắt tôi.

 

24/11/2004

 

 

 


QUÀ TẶNG SAU THÁNG MƯỜI

(Hôm nay, NLC nhận được quà tặng của anh Vân Đình Hùng. Quà tặng dành cho tháng Mười, dù tháng Mười đã qua. Tháng Mười phương Nam nắng và gió chao chát. Tháng Mười miền Bắc heo may thả từng ngõ phố. Xin cảm ơn anh Vân Đình Hùng. Cảm ơn những bài viết ngắn của anh như những đóa hoa mỏng manh và nhiều màu sắc, với chút hương dìu dịu, lan tỏa nhẹ nhàng dành những bài thơ của Nữ)

Em đi
Nguyễn Lâm Cúc

Có ai đâu trong cuộc chia ly này
tiễn và đi một mình em làm cả
ngọn gió bấc trút xuống mầm lá
ai đó cầm mùa đông chao nghiêng

Cái cột vào trăm năm
tưởng đã là bền chặt 
ai ngờ
lầm lỡ là vòng Kim Cô
câu thần chú
do quỷ ma tùy nghi tụng niệm
để bốn phía đều hóa biển
thoi thóp kiếp người

Vẫn mơ giấc mơ cánh buồm nâu
cánh buồn nâu tí hin xa tít tắp
Khản giọng gọi đò ơi
hun hút chân trời

Một nghìn lần đối diện vầng trăng
chín phần mười đơn lẻ
đôi tay em vì thế
thõng xuôi
bèo dạt tím ngan ngát 
thương cũng đành ngồi coi nước chảy
thôi thì em đi
Tháng mười, tháng mười, tháng mười.


Nhịp thơ độc hành của lữ khách, có gì đấy pha chút giang hồ, bất cần, ngạo nghễ. Có lẽ. Nhà thơ nữ ở vùng Nam trung bộ, nơi có biển xanh cát trắng vẫn có những câu thơ gió bấc và mùa đông khá riêng. Đấy là sự bay bổng của phút thăng hiếm hoi. Một cảm nhận lý tính về mùa không có ở phương Nam xa ấy, thế nên mùa đông mới chao nghiêng chăng?

Bài thơ khởi nguồn từ một cuộc chia ly. Có thể chỉ là một giả định riêng nên cuộc chia ly không nói rõ lý do. Có thể chỉ là cuộc chia tay với một ký ức đẹp, một thói quen đẹp, phải chia tay nó bởi một vòng cương toả, ức chế chỉ để yên phận kiếm miếng cơm manh áo. Cũng có thể chỉ là một tự ái của kẻ sỹ… nhiều lắm, những giả định như thế khi đọc bài thơ này và cùng kéo dài cái cô đơn kia của tác giả.

Một chút hoài nghi. Một sự đổ vỡ niềm tin. Một lầm lỡ và cái thõng tay buông xuôi bất lực. Thế là tìm đến nàng thơ và đối diện với vầng trăng nghìn lần có lẻ chỉ để giãi bày. Sự giải thoát dễ tìm kiếm không phải trả giá. Cái tự tại như nhiên tưởng như đã, như chặt như bền mà lại hóa không. Xung quanh vẫn thế thoi thóp kiếp người. Bốn từ này chưa thật đắc địa trong ngữ cảnh do các câu thơ đề pa dẫn tới, nhưng nó là cái nhìn của riêng Nguyễn Lâm Cúc.

Giấc mơ cánh buồm nâu! Nó đã từng là giấc mơ đẹp, nay thật xa vời không phổng phao lớn lao như hoài vọng. Rồi khản giọng gọi người đưa sang ngang bên bến sông quê. Âm thanh đò ơi cao cao trong giọng chiều cứ luẩn quẩn quanh con đò dập dềnh sóng nước. Bất lực, tiếng gọi đò chết lịm giữa dòng sông có đám lục bình tím ngát lững lờ trôi. Thế là không qua được sông đành phải đi trên con đường cũ. Cứ mé tả ngạn mà lần ngược dòng nước chảy, những mong tìm đến thượng nguồn. Lòng đã một lần muốn trôi xuôi theo dòng ra biển. Lại sợ biển lớn bão dông. Sợ cái cánh buồm nâu nhỏ bé không xuất hiện lại trong mơ. Sợ. Em sợ. Có lẽ…

Cuộc ra đi này như vô định đến vô định. Lữ khách tháng mười trong lần cô đơn hiếm hoi như quyết ngược dòng ký ức để tìm cái đã cột vào trăm năm ấy tưởng đã chặt đã bền. Thứ ấy là gì nhỉ? Tôi thì cứ ngây ngô mà cho rằng đấy là hạnh phúc. Hạnh phúc nhỏ nhoi. Vậy thôi mà có nó sao khó quá chừng. Đò ơi, ai ơi, trời ơi… và còn gì nữa để ta kêu ta than ta thở cho nguôi ngoai cái vô cớ tự dưng đến, tự dưng khuấy động.

Em đi là nỗi cô đơn chợt hiện với vẻ đẹp lữ thứ. Bài thơ là phút thăng hiếm hoi của kẻ sỹ viết về cảm nhận của mình về khoảng trống không thể lấp đầy. Khởi hành là tháng mười. Gian nan cũng lại tháng mười. Và cuối cuộc vi hành này vẫn là tháng mười, tháng đông phương Bắc, tháng cười phương Nam. Có một tháng cười không ở phương Nam xa ấy mà phải tìm phải diện kiến để biết dung nhan của nó. Dung nhan tháng mười phương Nam như một ẩn số bởi tần suất nhịp ba cuối bài thơ để lại.

 

Ngày 2/11/2011_Vân Đình Hùng

 


"BIẾT BAY MÀ CÒN LẠC"

         

Chúng ta không chỉ mơ mình đứng vững trên đôi chân mà con ước ao tung mình lên khỏi mắt đất, lướt đi tựa gió. Nhẹ hẫng như mây trên tầng không. Uớc mơ đâu chỉ một ngày, mà hết cả đời, rồi truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia, đến độ giấc mơ biến thành máu đỏ chảy rần rần trong huyết quản. Rồi máu đỏ thôi thúc gắng sức, kiên định, cắn răng, trợn mắt ăn sóng, nuốt khói chỉ cốt sao đi được, chạy nhanh, nhảy cao và nung nấu ý chí một ngày nào đó cất cánh bay lên.

          Ôi chao, khi con người rời khỏi mặt đất, thoát khỏi những cản ngăn, vướng bận, che chắn, tầng không mở ra lồng lộng tha hồ vun vút  bay lượn, nhởn nhơ bằng chính đôi cánh mọc lên không phải trên vai mà ngay dưới nách, thì khi ấy, con người sẽ ngừng mọi giấc mơ lại chăng? Và bay được là giấc mơ cuối cùng, thỏa mãn chăng?

          Có vẻ như đang là thế.

 Bởi bay  như chim cho đến bây giờ vẫn chỉ là cõi mơ, chưa có ai đến được nên chưa thể có câu trả lời ngược, hoặc nếu có nói khác đi sức thuyết phục cũng kém.

          Thế nhưng, dù “biết bay, vẫn có thể lạc”. Mà bay trên tầng không, tầm mắt mênh mông, tự do khoáng đạt vậy mà vẫn lạc thì sự lầm lạc chắn chắn dù biết mình sẽ lầm lạc vẫn khó mà thoát. Truyện ngắn Phần Mềm của nhà văn Phan Đình Minh đã cho một cái nhìn vừa cụ thể, vừa ẩn dụ về một loài đang bay và một loài đang mơ bay nhưng lại có số phận gần như giống nhau.

          Nền tảng, không gian truyện là một chốn mà người đời luôn phải ngước nhìn lên với đôi mắt tôn kính, bởi nó được cấu trúc ở thượng tầng cuộc sống: Giới tri thức và khoa học. Hơn nữa, đó là những nhà lãnh đạo, muốn hay không muốn thì họ cũng chính là vai, đầu của xã hội, đại diện cho văn minh, cho tiến bộ và tất nhiên còn  đại diện cho cả những gì tốt đẹp ví dụ như sự tao nhã, tử tế, hay nói cách khác là đại diện cho Văn hóa. Nhân vật Quảng, trong truyện ngắn Phần Mềm là một đơn cử, hãy dành chút thời gian ngắm nghía chân dung của ông ta: “ Ngày đầu ông Quảng về Viện, tiếp xúc, ai cũng xít xoa: “Cơ quan nghiên cứu mà có người hào hoa thế. Cái gì cũng sâu, cũng thạo”. Tóc ông Quảng thì luôn bồng bềnh như mây xếp. Về mái tóc, nhiều người đã nhầm. Ông Quảng bị hói nặng, khéo vun mà được cái đầu giả, lọn có, búp có, chuẩn như lợp, cầu kỳ giống đầu văn nghệ sỹ. 

“Thời sạch sẽ các cụ hói qua lâu rồi”- Tự tin về mái đầu đẹp, ông Quảng hay kháy khót, phân biệt mình với các vị giáo sư của viện. Nguyên nhân cũng bởi mấy năm nay, Hội đồng giáo sư luôn để tiếng trong các cuộc nghiệm thu đề tài khoa học. Các cụ hói toàn “Nghiệm thu vô tội vạ. Trăm phần trăm”. Đơn vị nào đưa đề tài lên, đều “xét chọn”. Điểm thầu, bao, cũng cân. Chuẩn không cần chỉnh. Phong bì đã nhận, phải vỗ tay thôi. Không lẽ xẻn chữ “khen”, “tốt” là đằng khác. Chuyên đề sập xệ thì Hội đồng chấm “trung bình”. Có đủ thang để ghép. Mấy gã thất sừng không chức, không quyền lúc nào trõm được chuyện tò he, lập tức ngoác mồm gọi nhóm kinh viện này là “gà”. 

Không biết người khác như thế nào, còn tôi, nếu may mắn được diện kiến ông Quảng, tôi sẽ tay nọ úp vào tay kia để ngay phía trước, một dạ, hai thưa vô cùng e ấp, tỏ rõ rằng thì mà là… tôi rất “ruyên ráng” để còn kiếm chút thiện cảm với người đối diện. Và tất nhiên, không cần hét, chỉ cần ông Quảng chau mày cũng đủ thấy lửa khói ngút vòm trời ông ta ngự trị. Cho nên, tôi hoàn toàn đồng cảm với sự thập thò mãi nơi cửa của Đông, một nhân viên tuy có bằng cấp nhưng lại thiếu nhiều thứ như chỗ dựa, tiền bạc và…liều lĩnh

“ - Chú cho cháu cái thiết kế hệ thống.

Đông thập thò mãi ở cửa phòng ông Quảng. Hơi lạnh của chiếc điều hòa nhiệt độ 18000 BTU loang dịu góc hành lang. Mùi nước hoa xịt phòng thoang thoảng, khiến chồng tôi nhẹ bẫng người.

          - Thiết kế gì? Phần mềm cần gì phải hệ với thống.

          Chết cha. Ông Quảng lại phán không cần bản thiết kế hệ thống mới gay. Mặt Đông bạc phệch như tờ giấy ăn, chuyền dần sang dừ đỏ. Anh đứng như trời trồng, dũi mãi mũi giầy muốn thủng tấm thảm chùi chân mà ông Quảng chẳng gọi vào, cũng không đuổi ra. Con chim sẻ mắc kẹt từ hôm qua trong hành lang kính, cứ bay loạn xạ, bỗng lao phịch vào vai Đông, làm anh giật bắn người.

Trấn tĩnh một hồi rồi Đông cũng liều hé mắt nhòm vào. Hoảng hồn. Trong phòng, ông Quảng đang gập mình lên màn hình máy vi tính. Đông thoáng nghe thấy gì chiu chíu như tiếng va chạm binh khí kim loại. Chết cha, đây là trò chơi game Võ lâm truyền kỳ.”

Thật dễ hiểu khi Huệ xuất hiện trước mặt ông ta với miệng nhoẻn cười  sao cho hé chiếc răng duyên và lún đồng tiền vừa tròn, vừa sâu trên má nhằm làm quà…cầu cạnh, đó cũng là thứ duy nhất mà Huệ đang sở hữu và tự tin khi mang ra đặt cược với thế nhân. Nhà văn Phan Đình Minh viết:

“Tôi bước tự tin qua cánh cửa bọc da, nặng chịch. Trên tay vung vẩy tập thuyết trình phần mềm HOX2.

- Gặp tôi?

          Ông Quảng tỏ ra ngạc nhiên. Tôi nhoẻn miệng cười, cố hé chiếc răng duyên và cái lúm đồng xu. Ông Quảng dùn gối, ấn quả bóng xanh vào dây gánh. Màn hình kêu rộp... điểm thưởng 200.

          - Cháu là Huệ, vợ Đông, chú ạ.

 Ông Quảng đóng cái cúc thứ 2 chiếc áo véc mầu xám tro đang mặc. Rướn người, chìa tay về phía ghế sô pha. Mắt ông đánh ra cửa rất nhanh. “Cánh cửa lúc vào mình đã khép, mà lò xo tự động bao giờ chẳng kéo nó chặt chàng” - ý nghĩ lướt trong đầu tôi.

          - Thế à. Tưởng bạn bên Vụ đối ngoại. Mình già lắm à?!

Mắt ông Quảng ánh lên. Tay ông vân vê quả đào bằng đá ngọc bích, nhìn phát ghét! Mà sao lại mang đào tiên lên bàn làm việc!

 Mắt cười, mồm cười, mũi cười.

          Trán ông Quảng nhẫy nhầy như có nắng đậu trên.

“Ông ta trẻ thật”- Tôi lại nghĩ. Ông Quảng buông quả đào đá, đưa tay lên ốp ốp mái tóc cứng đét vì gôm.

- Chú viên mãn chán. Anh Đông gọi vậy, nên cháu...

Tôi cười tin cậy. Ông Quảng còn dễ chịu hơn những gì Đông kể ấy chứ.

- Đông là việc của nó, mà thôi, tuỳ Huệ.

- Cháu đến báo cáo cái phần mềm HOX2.

- À, ừ, phần mềm.

Con chim sẻ bữa nọ bị lạc, suýt chết đói trong hành lang kính, hôm nay lại sa tới. Nó cứ chấp chới rồi lao mình bùm bụp vào ô cửa mé ngoài.

Biết bay mà còn lạc!?”

Đến đây, con chim Sẻ xuất hiện lần thứ hai trong truyện ngắn này. Thoạt đầu, tưởng như con chim Sẻ vô tình vướng vào mắt Đông khi cậu kỹ sư bất tài, bất lực thập thò cầu cạnh xin duyệt một dự án. Lúc đứng trong hành lang, Đông ngó buâng quơ vừa để trấn an mình, vừa tìm thần hộ mệnh , nếu trên đời có vị thần này. Nhưng bay vào trong mắt Đông chỉ là một con chim lạc. Một chi tiết vàng. Bởi vì, khi khép truyện ngắn lại, các nhân vật trôi theo số phận của mình thì cánh chim va đập mãi trong hành lang vẫn cứ va đập vào tâm thức người đọc. Cái câu, “ Biết bay mà còn lạc” chỉ năm chữ, nhưng nghĩa của nó lại thăm thẳm, khiến ta có thể suy tư hoài, day dứt hoài và có lúc phải à lên, câu này, năm chữ này đâu chỉ là Văn mà là Thơ. Bởi sự súc tích, hàm chứa, sức khơi gợi mạnh mẽ đồng thời cũng rất hình tượng.

Con chim Sẻ trong hành lang cũng chính là hình ảnh của Huệ, vợ Đông. Nhân vật chính của truyện ngắn Phần Mềm. Huệ có trình độ chuyên môn giỏi, có bằng cấp cao, có nhan sắc và đang trẻ trung. Nếu nói một cách bóng bẩy, chữ nghĩa thì Huệ đang có đôi cánh đủ sức bay cao, bay xa trong cuộc đời.

 Nhưng không, Huệ đã lạc. Có thể sau này Huệ tìm được lối ra, có thể Huệ bay cao hơn, cũng có thể những cú va đập lần này làm gãy đôi cánh  suốt đời?

Huệ yêu chồng, có trách nhiệm với gia đình chồng, với người cha chồng đang chờ chữa mắt cấp bách, kinh phí dành cho Phần Mềm HOX2, là cứu cánh duy nhất, trong lúc này của Huệ. Không chỉ thiết kế phần mềm, làm thay chồng tất cả mọi công việc của công trình, Huệ còn chịu đựng đôi bàn tay oặt ẹo của ông Quảng khắp thân thể mình. Một cái giá dành cho một lợi nhuận mà Huệ chẳng còn gì để mặc cả?

“Tôi lại rùng mình. Đã ba đêm rồi tôi khóc vì không thể quên cảm giác bàn tay đuồi đuội, mềm oặt, lạnh băng của ông Quảng luồn dưới eo mình.

Lão này mắc bệnh hoa liễu, không cơm cháo gì được nhưng thói gió trăng luôn ngời ngời trỗi dậy khi vấp mắt bất cứ người khác giới nào. Nghe đồn, có lần trà dư tửu hậu lão buột miệng tuyên bố với đàn em: “Bút của anh có thể viết đủ loại giấy”. Mỗi lần vậy, lũ đàn ông cấp dưới lão lại quay mặt, trõ vào tai nhau “Cái thân bềnh bệu kia có lên máy ép mía cả ngày cũng chẳng thể ra một giọt thứ nước tạo người quý giá đâu”. Hơn nữa, lão đang mắc chứng... biến dạng, của mình mà lão chẳng dám nhìn. Mấy tháng nay, đông tây y, chui lủi chữa hoài không khỏi. Cực nhất là tối tối phải nghĩ đủ mẹo, kiếm đủ cớ để cách ly bà vợ già nhưng lắm tiền, vàng.

          “Chiều chú tí. Chú chỉ nhòm. Ôi cháu đẹp. Cháu có kêu, chẳng ai cứu lúc này”.

Nỗi sợ hãi cùng cực, sự khinh bỉ, dẫn đến cảm giác chai lì, tràn ngập trong tôi. Tôi nghe ùng oàng tiếng bom tấn dội từ xa. Rồi đôi mắt nhằng nhịt mộng thịt của ông nội thằng cu Quy cứ lồ lộ. Mặc kệ cho bàn tay những mỡ là mỡ, mềm oặt rờ rịt suốt quãng eo thân thể, dịch xuống... từ đầu đến chân tôi lúc này tựa bùn lã tã rơi khi vách rơm tuột nhứng.

“Thế đã xong chưa ông?”.

“Ôi, chú mệt”.

“ Mệt, còn ham!”.

“Cháu đẹp quá. Chú chết mất”.  “Chú sẽ ký HOX2, mai bảo Đông làm các thủ tục thanh khoản”.

Lão Quảng bệt xuống nền nhà. Hốc mắt lão thấy hai dòng nước. Hô hô. Lần thứ hai tôi gặp lão khóc, một lần khi bố lão chết, lão đứng cạnh quan tài giơ tay cảm ơn mọi người đi quanh. Hồi đó tôi cứ tấm tắc, ông Quảng này thương bố ghê. Còn lần này...

Con chim mang tên Huệ đã lao vào hành lang đời,  bởi vì Huệ nghĩ có thể vút ra khỏi hành lang bằng những cánh cửa trong trẻo kia. Không. Huệ không nghĩ thế, Huệ ở vào cuộc chẳng đặng đừng, biết hành lang là lối hẹp, là không thoát khỏi đau đớn, đọa đày nhưng chẳng thể nào tránh ? Có vẻ như đó là ngỏ cụt mà Huệ không thể không đi, bởi vì Huệ từng nghĩ: “Tôi như cây nước đá bị dòng nước nóng xuyên tâm. Bốn tháng sau, mấy anh chị em cũng sửa xong cái nhà cho cha. Tổng kết kinh phí, vợ chồng tôi lo nhiều nhất. Mấy chỉ vàng hồi môn bay theo xi măng, vôi cát, gạch lát nền. Cả mười mấy triệu vay lãi cao.

Cây nước đá thủng toang hoác không biết lấy gì hàn!”

Cây nước đá không phải bị một cái gì khác mà bị chính dòng nước nóng xuyên thủng. Cùng là nước, vậy mà xuyên rỗng nhau. Thì nghĩa là bị chính những điều tưởng như là mình, chính mình, hay nói khác đi đó là bổn phận của mình, trách nhiệm của mình và nó xuyên rỗng chính mình đến không thể vá, hàn, hay đắp lại nổi mà chỉ còn chính giữa lòng người một sự toang hoác!

          Truyện ngắn đắt giá nhờ chi tiết độc. Trong Phần Mềm, nhà văn Phan Đình Minh lại thêm một lần nữa cho thấy trong kho chữ nghĩa riêng ông, chi tiết luôn bất ngờ, giàu biểu cảm: “Cây nước đá thủng toang hoác không biết lấy gì hàn”, lại là một chi tiết sang, nổi bật  khi mang nó đặt song hành với nhân vật thì nỗi đau, niềm day dứt  của con người nhân lên gấp bội.

          Viết đến đây bất ngờ nhớ một câu thơ nhại của nhà văn Nguyễn Quang Lập “ Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!”

Vậy bay có phải là ước mơ duy nhất mỹ mãn của con người?

 Giữa không biết bay vĩnh viễn và biết bay theo một cách nào đó ai hạnh phúc hơn? Hay nói cách khác, một người phụ nữ ít hiểu biết, chấp nhận mọi nỗi cuộc đời trong mơ hồ, ngu ngơ, quẩn quanh hạnh phúc hơn,  hay biết rõ tường tận mà vẫn chấp nhận, thì hạnh phúc hơn?

Nhận biết, hay nhận thức đang được cho là điểm ưu việt riêng của loài người. Nhưng cũng có người cho rằng chính sự nhận biết là đau khổ. Nhà văn Phan Đình Minh lại tấm tắc trong một bài viết khác rằng: “ Chúng tôi đã yêu thương nhau như loài vật”. Mà loài vật yêu thương nhau thì hoàn toàn bằng bản năng. Không phải là lý trí, càng không phải là duy ý chí.  Bản năng không bao giờ đi kèm với tính toán, hơn thiệt, vậy sao có người lại cứ tô hô nói rằng sống kém nhận thức, toàn bản năng, đúng là con chứ không phải người?

Đâu là chân lý nhỉ?

Hay chữ bản năng đang bị lạm dụng, áp đặt thậm chí là đang bị cưỡng bức đến sai nghĩa?

          Không chỉ hay bằng những chi tiết ấn tượng,  truyện ngắn Phần Mềm đưa ra bối cảnh ít xuất hiện trong truyện ngắn đó là những nhân vật ở  thượng tầng chót vót của xã hội Việt Nam, và nóng hổi vấn đề thời, thế.  Ở tầng này, lâu nay ít nhà văn dám động đến, dám nói thẳng, nói thật vì kị húy đủ thứ. Hơn nữa, đề cập đến một lĩnh vực khoa học ứng dụng hay lập trình trên máy vi tính thì thế hệ 6 X trở về trước lại càng hiếm người đủ kiến thức thâm nhập, đừng nói chi đến việc “cởi hết ruột gan” cho người thấy cả đáy lòng.  Mặc dù, truyện chỉ mới đăng ở Tuần báo Văn Nghệ Việt Nam số 25, tháng Sáu năm 2011.

20/10/2011

Nguyễn Lâm Cúc


DỮ DỘI HÌNH TƯỢNG NGƯỜI MẸ

NLC

Một người bạn là một nhà khoa học nhưng anh cũng là một khách văn chương đắm đuối, đã  nói rất say sưa về bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa rằng, ông ta đã có ý kiến riêng biệt về hình tượng người mẹ trong tác phẩm Tắt Đèn của nhà văn Ngô Tất Tố. Anh bạn tấm tắc mãi khiến tôi cũng bị thuyết phục theo bởi vì sự thú vị của anh và cũng bởi vì tôi có quan tâm đến hình tượng những người mẹ trong nhiều tác phẩm văn học. Tất nhiên, sự quan tâm của tôi không giống ai và nó rất nhỏ bé.

Câu chuyện thú vị khiến tôi nhớ đến hình ảnh người mẹ từng đeo đuổi trong tâm trí tôi qua các tác phẩm văn học khác, như người mẹ trong tác phẩm danh tiếng  Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà - Victor Hugo, người mẹ trong Cuốn theo chiều gió do Margaret Mitchell   viết, và trong  “Chùm nho phẫn nộ” của tác giả John Steinbeck đều là của Mỹ, người mẹ qua  “Bông hồng vàng” của Pauxtôpxki người mẹ Mec-gi trong “ Con chim ẩn mình chờ chết” , tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nữ văn sĩ người Úc Colleen McCulough hay người mẹ trong tác phẩm  kinh điển của Nga "Anna Karenina"  của đại văn hào "Lev Nikolayevich Tolstoy" …Mỗi người mẹ qua từng tác phẩm đều để lại những ấn tượng day dứt riêng, nhưng, người mẹ trong tác phẩm “Báu vật của đời”, do nhà văn Mạc Ngôn, Trung Quốc viết là ám ảnh nhất.

Bối cảnh chính trong Tiểu thuyết Báu vật của đời  là vùng Cao Mật, Trung Quốc. Nó cung cấp cho bạn đọc thông tin khái quát cả giai đoạn lịch sử hiện đại của Trung Quốc thông qua các câu truyện về các số phận của mỗi thế hệ gia đình nhà Thượng Quan. Từ các số phận, lịch sử  được tái hiện sống động, gần gũi, dưới nhiều góc độ, tạo nên sức lay chuyển nhận thức của người đọc một cách mãnh liệt nhất. Trong đó, hình ảnh người mẹ được tập trung xây dựng một cách công phu, tỉ mỉ chung quanh cuộc đời của Lỗ Toàn Nhi.

Lỗ Toàn Nhi, người phụ nữ nông thôn, năm 16 tuổi bỏ tục bó chân và lấy chồng là Thượng Quan Thọ Hỷ. Chồng của Lỗ Toàn Nhi, bị bất lực. Lỗ  Toàn Nhi có 9 đứa con riêng, 8 gái và 1 trai, gồm : Lai Đệ và Chiêu Đệ con của Lỗ thị với ông chú dượng. Lãnh Đệ, con của Lỗ thị với anh chàng bán vịt dạo. Tưởng Đệ, con của anh chàng bán thuốc rong. Phán Đệ, có cha  lão Báo bán thịt chó. Niệm Đệ,  con của  hoà thượng Trí Thông. Cầu Đệ,  con của tên lính thất trận. Và cặp sinh đôi Ngọc Nữ - Kim Đồng, con của Lỗ thị với mục sư Malôa.

Số phận của Lỗ Toàn Nhi là một chuỗi liên hoàn các nghịch cảnh cay nghiệt mà dường như lúc nào bà cũng ở bị số phận, hoàn cảnh dồn vào vách tường, ngỏ chụt, hay đường cùng. Tuy nhiên, bà chưa đầu hàng bao giờ.

Trong 9 người con. Mỗi người con ra đời đại diện cho một bi kịch của đời bà. Có đứa con ra đời chỉ để trả thay cho một món tiền, hay một ân huệ. Hai đứa con song sinh cuối cùng là tình yêu của đời bà, nhưng đó cũng là thảm kịch bi thương nhất.

Đói, khổ là bạn đồng hành cùng bà trong suốt cuộc đời. Nhưng bà chỉ ăn cắp khi Ngọc Nữ- Đứa con của tình yêu, đứa con mù lòa của bà và đứa cháu ngoại Hàn Chim không có gì để sống ngoài những bát nước hồ đậu sống do bà ói ra mỗi ngày. Lúc đó, Kìm Đồng từ Nông trường trở về thăm mẹ. Cậu ta nhìn thấy mẹ đi làm về và đi thẳng tới bồn rửa mặt đặt dưới gốc cây. Bà Lỗ Toàn Nhi quì xuống “ …hai tay bám mép bồn, cổ vươn dài ra, miệng há to, những hạt đậu nối đuôi nhau rơi xuống nước lõm bõm. Nghỉ xả hơi một chút, bà nhìn con trai bằng đôi mắt lèm nhèm, nói câu gì không rõ rồi lại cúi xuống ọe tiếp. Những hạt đậu non ra lần sau trộn lẫn với dịch dạ dày, dính nhơm nhớp, từng cục rơi xuống. Cuối cùng khi đã nôn hết, bà khỏa tay vào bồn bốc những hạt đậu lên xem, nét mặt tỏ ra hài lòng”

Những hạt đậu ấy được rửa sạch và không phải đem nấu lên, bởi nấu lên sẽ có khói, mà có khói thì có người hỏi nấu gì làm sao trả lời, cho nên bà Lỗ Toàn Nhi đã dùng một cái chày giã đậu thành một thứ nước hồ cho con và cháu uống. Khi cậu con trai bưng bát nước hồ đậu mà với nét mặt xúc động, bà Lỗ Toàn Nhi nói: “ Con ơi, mẹ cực chẳng đả đấy thôi, con đừng dè bỉu mẹ. Cả đời mẹ phạm sai lầm rất nhiều, nhưng ăn cắp thì lần này là lần đầu…”

          Nhưng đứa con Ngọc Nữ xinh đẹp của bà dù ớn cái mùi dịch vị có lẫn máu của mẹ khi mẹ nôn, đồng thời ngàn lần biết ơn cái mùi khó chịu ấy. Tuy nhiên, mỗi khi tiếng chày giã lốp cốp và mùi đậu sống bay thì tâm can người con gái bị dày vò, nước mắt thương mẹ rơi lã chã. Người con gái đã chọn cách đi thẳng ra sông để giải thoát mình và cất bớt gánh nặng trên vai mẹ già.

          Có rất nhiều hình tượng được xây dựng về người mẹ. Nhưng những chi tiết trên, tôi đọc thấy ở Mạc Ngôn là lần đầu.

          Trong thiên nhiên, loài vật mang thức ăn về  rồi nôn từ dạ dày ra mớm cho con thì không thiếu hình ảnh. Nhưng ở con người mà hoàn cảnh đẩy vào thế dùng dạ dày của mình như một chiếc túi đựng mà mỗi lần muốn lấy  thức ăn ra thì kèm theo cả dịch vị, máu, nước mắt cùng đau đớn nghẹt thở , nhưng người mẹ vẫn làm thì cử chỉ đó vượt lên mọi thứ ngôn ngữ yêu thương.

          Bài viết chỉ  là ý kiến đơn thuần văn chương.

 

 

 


CÓ THỂ THA THỨ

 

NLC

Chẳng có gì liên quan giữa buổi sáng hôm nay ở một nơi và tiếng chim xanh xanh, hào phóng giăng từng chùm trên những lùm cây, lảnh lót đâu đó dưới mái hiên, lăn tròn trên tầng không với một buổi sáng xa xưa ở một hàng hiên trường học. Trên hàng hiên đó, một người đàn ông dong dỏng cao, áo sơ mi màu vàng nhạt đóng thùng, tóc hoa râm chải lượn sóng, tay cầm một quyển sách, nện gót dày cao su trên hàng lang dẫn đến lớp tôi.

Khi ông ta đến gần, tôi nhìn chăm chăm vào bàn tay của ông, ở đó đang có một vật mà tôi săn đuổi từ lâu lắm nhưng không sao tìm thấy.

          -Chào các bạn, từ tuần sau tôi sẽ là người trao đổi vài vấn đề với các bạn tại lớp học này. Tôi hy vọng chúng ta có những buổi giao lưu thoải mái và hứng thú. Tên tôi là Vũ Hà, còn tên các bạn tôi sẽ làm quen vào buổi học đầu tiên trong tuần đến. Còn bây giờ, “Các anh chị chuẩn bị một tờ giấy, ghi tên họ đầy đủ và chúng ta bắt đầu bài kiểm tra”.

          Ai nấy cùng ngơ ngác, đã học gì đâu mà kiểm tra. Có anh nào đó còn ngổ ngáo hỏi, Thầy có nhầm không hả Thầy?

          -Tôi chẳng nhầm gì cả. Các anh chị chuẩn bị một đôi giấy như thế này.- Thầy giơ cao một tờ kẽ ngang. Anh bạn lở lời, thè lưỡi một cái rồi cũng cắm cúi lục túi, lấy giấy bút.

          Câu hỏi đầu tiên.- Thầy bắt đầu đọc. - Nhà văn nào bạn thích? Tác phẩm văn học nào khiến bạn mất ngủ nhiều đêm?

          -Câu hỏi thứ hai: Người bạn thân của bạn có tính cách gì khiến bạn nể phục?

          -…và câu hỏi cuối cùng trong mười câu kiểm tra hôm nay đó là: Tật xấu nào bạn có thể tha thứ được?

          Chúng tôi cắm cúi chép câu hỏi, cắm cúi trả lời. Cả lớp im phăng phắc. Cường “nhiều chuyện” cũng ra chiều đăm chiêu trên trang giấy của mình.

          Đang lúc đó thì trống giải lao vang lên, thầy nói, tiết sau tôi thu bài kiểm tra. Thầy ra  khỏi lớp.

        Tôi lao nhanh theo thầy và đuổi kịp thầy gần cửa phòng Giám hiệu. Vừa thở, tôi vừa nói như cuốn: Thưa Thầy, em là học sinh ở lớp Thầy vừa mới nhận. Tên em là…Thầy có thể cho em mượn cuốn sách Thầy đang cầm được không ạ. Em đã tìm cuốn truyện ngụ ngôn của Ê- Dốp này suốt bao nhiêu năm qua mà chưa từng ngó thấy bao giờ. Em xin hứa ngay đầu giờ tuần sau thầy trở lại lớp, em sẽ hoàn trả cho Thầy?

          ( Thưa các bạn, thời của tôi sách hiếm như…đá quí, không rẻ ngang bèo tây như bây giờ)

           Thầy gần như không nhìn tôi, nói liền:

          -Xin lỗi chị, tôi không có thói quen cho mượn sách!

          Sau câu nói, Thầy Vũ Hà “tặng” tôi một nụ cười dịu dàng như một lời an ủi  và cũng như một lời nhắc nhở, hãy nhường đường. Vì tôi đang chắn lối đi của Thầy. Tôi tròn mắt nhìn Thầy vài giây rồi né sang một bên để Thầy vào phòng hiệu trưởng.

         Tôi về lớp học, cắm cúi “làm bài kiểm tra”, câu hỏi cuối cùng tôi ghi: Thói quen không cho mượn sách là một thói xấu tha thứ được!

          Giờ học tuần sau Thầy trả bài kiểm tra. Tôi hồi hộp vô cùng.

          Thầy bước vào lớp, trên môi là một nự cười độ lượng.

         - Thưa các anh chị, mà không, các bạn. Chúng ta đã làm quen cùng nhau. Qua cuộc kiểm tra đầu tiên, tôi đã biết ít nhiều về các bạn qua mười điểm mà hôm trước các bạn thổ lộ cùng tôi. Về  phía tôi, các bạn sẽ tìm hiểu dần dần qua những buổi giao lưu mà chúng ta sẽ gặp nhau trong suốt năm học. Hôm nay, tôi chỉ bộc bạch với các bạn một thói xấu của tôi. Nhưng tôi xin mở ngoặc một chút, không có thói xấu không phải là con người. Con người thì luôn có thói xấu và tốt hòa lẫn, tạo thành hệt như xương và thịt bao bọc nhau, tạo nên cơ thể. Như vậy, xấu và tốt hòa lẫn, tạo nên tính cách mỗi chúng ta. Tôi cũng thế. Và tôi có thói quen xấu là không cho mượn sách, thói quen này được một bạn trong lớp cho rằng, đó là tật xấu có thể tha thứ được. Tha thứ là một việc vô cùng quan trọng trong đời người, cũng như biết được mình xấu đến đâu, tôi nghĩ như vậy đó các bạn.

           Đó là bài học đầu tiên tôi học ở thầy Vũ Hà.

          Thầy Vũ Hà đã đi xa, nhưng mười câu hỏi kiểm tra của Thầy ngày đầu tiên đến lớp, vẫn còn kiểm tra tôi có lẽ đến mai sau.

 

 

 


LÂU RỒI KHÔNG VỀ QUÊ

alt

Thơ - Văn Thành Ngỗng

 

Lâu rồi không về quê

Cùng Ngan đi hái nấm,

Nay Ngỗng vào trong rừng

Thấy lòng thật buồn đau.

 

Chẳng còn bóng mát nào,

Cho nấm rừng nương tựa

Cho Ngan cười hớn hở

Giỏ đầy nấm rừng thơm.

 

Gỗ quý đâu hết rồi ?

Cây to, cùng cây nhỏ,

Ngã nhào trơ thân gốc

Lớp lớp nằm phơi thây.

 

Lưỡi rìu hay lưỡi búa ?

Bàn tay kẻ nào đây ?

Tàn phá cả rừng này

Trời buồn chẳng áng mây !

 

Nếu chỉ  búa và rìu

Hay chỉ chiếc  máy cưa

Hét hò vang rừng núi

Cũng sau bàn tay người

 

Lũ về cuộn gốc cây

Đá đùa vui cùng lũ

Cuốn phăng cả xóm làng

Muôn loài cũng cuốn theo.

 

Cái đói lẫn cái nghèo

Người dân đây gánh chịu

Hỡi rằng có biết không

Bao quí Ngài, quí Ông?


ẢO GIÁC PHÙ SINH

alt

Truyện ngắn NLC

Chiếc điện thoại rung lên trong túi quần. Nàng đang gọi cho tôi. Nàng đang nhớ tôi như tôi đang nhớ nàng, như tôi đang muốn gọi cho nàng mà chưa vội làm. Tôi muốn nũng nịu với nàng, muốn cảm giác nhớ của nàng về tôi mềm ra, vây bủa lấy nàng đến độ khiến nàng thấy mệt mỏi. Chút mệt mỏi chờ đợi, háo hức và bên trong bắt đầu len lén bò vào bước chân ngọt ngào  dỗi hờn gợn âu lo mơ hồ. Nhưng số gọi cho tôi không phải số của nàng. Nó là một số lạ. Ở cuối là con số hai và con số năm. Tôi ghét hai số này cả khi chúng đứng riêng lẻ hay nối đuôi cạnh nhau. Tôi ghét mà chẳng cần lý do. Phải . Đôi khi ghét hay yêu đâu cần  rạch ròi, thẳng băng và trình bày đầy đủ lý do, như tôi đang yêu nàng. Tôi yêu đến mụ mẫm, đến kiệt kệ, hệt như tôi đang dốc cạn đời mình trao cho nàng. Tôi đã làm như thế, và sẽ làm như thế khi có cơ hội. Sẽ vét tận cùng sức lực của tôi, đến giọt sau cùng và giây phút sau cùng của đêm đem trao cho nàng như từng thế, ở bên sông Hải Nam.

Đêm đó, nếu nói tôi cưỡng bức nàng cũng đúng mà nói nàng đã hiến dâng, nàng đã chờ đợi hàng ngàn năm kể từ khi thân xác nàng trở thành đàn bà để cùng tôi đi vào tột đỉnh của thế giới nhục thể cũng không sai. Nàng đã e dè, nàng bảo rằng nàng không biết nàng có thể làm được điều tôi mong đợi hay không, hoặc có thể đạt được chính điều nàng mong đợi hay không? Tôi biết, nàng cẩn trọng và lưỡng lự. Tôi đã thô bạo, đã đánh lừa nàng, và đã dùng đôi tay cầm bay, quai búa, trộn hồ của mình để khóa chặt nàng lại. Nàng vùng vẫy nhưng đã ngoan ngoãn. Tôi lao hết mình về phía sâu thẳm, về phía nồng nàn. Khi nàng đi rồi, tôi nghiêng mình úp mặt lên chỗ hơi ấm của nàng khóc rưng rức.

Người gọi có hai năm ở đuôi là chị Tảo. Chán thật. Tôi chỉ muốn là nàng gọi tôi thôi. Mà sao chị Tảo  nhiều số điện thoại vậy nhỉ? Chị bán ốc luộc chấm mắm gừng. Người bán ốc luộc chấm mắm rừng cay và thơm thì cần nhiều số điện thoại để làm chi?

Chị Tảo khóc. Tiếng khóc nức nở, vật vả làm nhòe tiếng nói khiến tin  anh Bảy chết rè rè như có mưa giăng, gió thổi ào ào. Dẫu thế tôi cũng hiểu, anh Bảy chết lạnh cóng ngoài hè vì say rượu. Sáng ra, bé Ninh lay gọi thì người đã cứng. Anh Bảy chết. Một tin thật kinh khủng nhưng lại bình thường. Ai mà không chết. Mọi người rồi sẽ chết. Tôi cũng sẽ chết. Lúc này đây, tôi cảm giác cái chết rất kề cận mình, thân quen với mình, ở ngay trong tấm thân nhiều nghiệt ngã và đầy khói thuốc của tôi. Mà thật lạ, tôi bỗng ao ước được chết lúc này, chết ngọt ngào êm ái trong ngọn sóng bồng bềnh, xô đẩy từ tình yêu của nàng. Tôi đã được nàng yêu. Tôi thỏa mãn, vậy thì dừng cuộc sống lại ngay trên đỉnh tuyệt vời có phải là hơn không?

Điện thoại đã ngưng, tôi nhờ chị Tảo thắp hương và sẽ đến sau.

Nàng vẫn không gọi cho tôi.

 Có lúc, tôi đã cầm điện thoại bấm số nàng và hớn hở nghĩ rằng mình cần báo với nàng tin anh Bảy mất. Nhưng liền đó, tôi lại nghĩ, anh Bảy có liên quan gì đến nàng đâu. Trên quả đất có đến tỉ tỉ người, họ có liên quan gì đến nàng đâu. Họ cũng không liên quan gì đến tôi. Vậy thì, anh Bảy mất hay còn đâu ý nghĩa gì với nàng, đâu cần thiết phải để nàng nói những câu máy móc, em chia sẻ nỗi buồn này cùng anh.

Phải. Tôi không nên nói về anh Bảy cùng nàng. Việc đó nên làm với chị Tương. Đúng. Bầu trời của chị Tương, hơi thở của chị Tương, mặt đất của chị Tương, âm thanh vui và buồn của chị Tương chính là anh Bảy. Nhưng, cũng chính vì thế mà chị Tương đã không hề sống một ngày tháng nào cho dù chị đã đến tuổi gần bảy mươi. Trời ạ. Bảy mươi tuổi chị Tương của tôi vẫn là một thiếu nữ trinh trắng!

Anh Bảy đã biến thành tượng đài để chị Tương bước lên bục trinh nữ suốt đời.

Anh Bảy cũng là huyệt mộ lạnh lẽo chôn chị Tương từ khi còn mơn mởn .

Tôi sợ chị Tương, sợ hình ảnh khô đét và mái đầu bạc phơ của chị.

Nàng vẫn không gọi cho tôi, không cả nhắn tin.

Tôi cũng không gọi cho nàng, cũng không tin nhắn.

Cứ dăm phút tôi lục điện thoại một lần tìm nàng, có khi tôi mơ hồ nghe tiếng rung và vội vàng đặt tay lên túi quần. Chiếc điện thoại ngoan cố im lặng không một chút phản ứng. Tôi vẫn không nản lòng. Nàng đang nhớ tôi và đang chơi trò “cứng, mềm”. Tôi nhất định cứng hơn nàng. Vì thế cứ để nàng hoặc nhắn, hoặc gọi tôi trước.

Con người thông minh hơn loài vật chính về thế mà con người luôn sẵn sàng phản trắc.

Con người thông minh hơn loài vật chính vì thế mà con người thủy chung mù quáng ngay cả khi đã bị phản trắc.

Vui sướng biết bao nếu niềm tin đặt vào ai đó được trọn vẹn. Tôi yêu nàng, tôi muốn trao nàng tất cả lòng tin của tôi. Nhưng cùng lúc đó tôi nghi ngờ nàng. Tôi nghi ngờ ngay cả khi nàng làm tình nồng nhiệt với tôi. Tôi bới  móc, soi mói  những cử của nàng hệt như gà mẹ siêng năng dùng đôi chân bới rác. Và lúc đó, tôi cũng như gà mẹ liên tục an ủi, vỗ về hứa hẹn với nàng bằng những âm thanh ấm áp, tin cậy nhất. Tôi, hay nàng sẽ hạnh phúc hơn vào lúc này? Tôi ước gì tôi có thể biết chính xác dù tôi và nàng đều thỏa mãn, miệt nhoài và rất nhiều phấn khích.

 

Tôi ơi, mệt mỏi và đau khổ nhất là nghi ngờ, nhưng tôi thề sẽ nghi ngờ. Tôi thà nghi ngờ nàng để được tin nàng như nàng vốn vậy hơn là đặt nàng lên bệ thờ mà tôi chẳng biết gì hơn về nàng. Tôi thà nghi ngờ và yêu nàng như nàng vốn được nhào nặn bằng quỷ dữ và thiên thần.

Nàng là biển ăm ắp ngọn sóng hạnh phúc dành cho tôi. Nàng cũng là sa mạc hút cạn kiệt mạch nguồn đời tôi.

Nhưng có thật tôi nghi ngờ nàng, hay chỉ là đang không tự tin vào chính mình? Tôi không phải người hùng, chưa phải là gã đẹp trai lãng tử nhất, càng không là người thành đạt, tiền núi, vàng thừa. Thiếu tất cả những yếu tố đó, phải chăng trước nàng, trước tình yêu của mình, con người đều bối rối?

Nhưng tình yêu sẽ là gì nếu dựa trên tất cả những điều kia mà quyết định?

Và nếu không có tất cả những điều trên thì tôi là ai đây?

Một gã dồn hết sức mình để kiếm sống?

Một gã kiếm sống và tôn thờ dân tộc?

Một gã kiếm sống, để được sống?

Một gã dùng hết sức lực của đời mình để…chẳng hiểu gì về cuộc đời cả?

Với tất cả những mục đích nêu trên thì mục đích kiếm sống và tôn thờ dân tộc xem ra được tán tụng, có ý nghĩa hơn cả. Nhưng mục đích dân tộc gần như chẳng dính dáng gì đến tôi cả, hay đúng hơn đó là một cái gì ở phía chân trời, còn tôi thì biết những bước chân của tôi khó mà đến gần được nó. Vả lại, một gã đàn ông, một gã trai tơ từng bị cha mình trói lại như bó một khúc giò, dùng roi vụt ngang dọc hả hê, vụt mãi và hả hê mãi. Sau, ông ta bỏ tôi lên chiếc honda như bỏ một con chó ghẻ và quảng con chó bị trói chằng chịt bằng dây thừng xuống nước. Ông ta muốn tôi chết. Không hẳn vậy, ý muốn của ông ta là tôi phải sợ, phải kinh hoàng khi nghĩ đến sự trừng trị của người cha. Người cha chỉ muốn trừng trị đứa con bởi nó giống ông ta. Bởi nó ăn cắp hệt như ông ta và cũng dùng tiền ăn cắp ném vào bất kỳ cuộc vui nào hệt như ông ta. Ông ta trừng trị kẻ có hành vi giống mình và vẫn ăn cắp nhiều hơn. Nếu ba ông ta còn sống có trừng trị ông ta và có ăn cắp nhiều hơn?

Thật khôi hài khi một gã ăn cắp trừng trị một thằng ăn cắp chỉ vì thằng đó nhỏ tuổi hơn và phải gọi ông ta bằng ba.

……

( còn tiếp)


HỒNG VẬT

alt

Truyện ngắn NLC

Chị Thư lội chợ đã lâu. Gần như gian hàng nào chị cũng ghé vào, cũng sờ cái này, mó cái kia, lục gian hàng khô, lôi kéo vài thứ trên gian hàng lưu niệm, đứng thật lâu trước những vật nhỏ làm bằng gỗ, bằng vải, nhưng kết cục chị không mua được thứ gì và thứ gì đó chị muốn mua, mua cho bằng được thì lại không hiện ra như chị mong đợi. Không kiên nhẫn được nữa, Linh hỏi:

            -Chị mua cái gì vậy? Em thấy, thứ gì cũng có, gian hàng nào cũng đầy ắp các thứ. Chị muốn mua mỹ phẩm, hay đồ vật lưu niệm, hay là cái gì?

            Chị Thư không trả lời Linh, chị vẫn tiếp tục ghé vào gian hàng làm hoa, đồ lưu niệm bằng vải. Linh càu nhàu: - Chị tìm không thấy thì hỏi người ta thử xem, biết đâu người ta không bày ra nhưng lại có ở phía trong. Còn không chị nói với em để em cùng tìm. Chị mua cái gì vậy?

-Mua cái lờ…!- Linh trợn tròn mắt, quá kinh ngạc trước câu trả lời của chị Thư. Ngay lúc đó, chị Thư cũng nhận ra mình lở lời, chị xoa xoa lên cánh tay Linh như một lời xin lỗi và nói nhỏ.-Chị muốn mua một món đồ để cúng Nhi. Vật này ít người biết, và nếu hỏi hay mở miệng nói trước khi tìm thấy nó thì vật cúng cũng không còn linh thiêng nữa.

Linh bực dọc, mua cái gì đã không nói thì chớ, đi chợ cả buổi mà cứ vòng ra, vòng vào chẳng về cũng chẳng mua, hỏi đến thì còn…Nhưng Linh kịp ngừng lại vì vẻ mặt đầy ân hận của chị Thư, và cũng vì Linh nhớ đến cô Nhi.

Chị Thư thường kể, khi Linh chào đời, người ẳm bồng chăm bẳm Linh chính là cô Nhi. Cô Nhi con ông già Miên, nhà ở đầu ngỏ. Ông già Miên suốt ngày đi đánh cờ, cô Nhi coi một cái quản nhỏ, bán những thứ hàng khô. Cha mẹ Linh đem Linh bỏ vào cái võng, cái võng mắc ngang qua gian hàng, cô Nhi vừa đưa võng, vừa coi hàng, vừa hát những bài hát của Thái Thanh và Khánh Li hát một thời để ru Linh. Lúc cô Nhi nói chuyện, cái giọng miền Đông vừa ngọt vừa êm êm, nhưng không hiểu sao, khi hát giọng cô lại toàn âm miền Bắc. Cô hát hay, hát say mê, hệt như đời cô chính là tiếng hát buồn bã thở than, trên môi của cô vậy.

Chị Thư hơn Linh vài tuổi. Chị Thư cũng quấn quít bên cô Nhi từ thưở lên năm. Chị thay cô Nhi đưa võng cho Linh mỗi khi cô bận. Một thứ tình lạ lùng, vừa không như tình bạn, vừa như tình bạn cùng lớn lên với Thư, Linh. Còn cô Nhi già đi trong tình của hai người bạn nhỏ.

Cô Nhi không lấy chồng. Trong ngỏ, những người đàn bà vẫn kể cùng nhau về mối tình của cô với một sĩ quan hồi trước năm một chín bảy lăm. Người sĩ quan đó đã biệt tăm cùng với chiếc tàu thủy mang anh ta vượt biển sang thế giới Thiên Đường.

Thiên Đường, Địa Ngục có hay không Linh không biết. Linh ao ước trong đời mình có một vận may là gặp được ai đó từ Thiên Đường hay Địa Ngục trở về để họ miệng nói, tay vẽ về thế giới đó cho Linh tường tận. Còn những lời đồn thổi, dù bí hiểm đến đâu Linh cũng e rằng nó chỉ là sản phẩm của những trí tưởng tượng. Linh tự nhủ, cái thực nhất chính là đời sống này đây. Là sự sống mà Linh đang có, chị Thư đang có, cô Nhi đang có. Tại sao đang có, rất thực, lại cứ cho là cõi tạm rồi mơ ước về một cõi không thực?

Chị Thư hay mắng Linh lẩn thẩn. Cũng có vẻ như vậy thật, ví dụ như Linh hay hỏi nhỏ chị Thư rằng tại sao cô Nhi không lấy chồng? Tại sao cô Nhi không đi nhà trọ như bọn bạn Linh vẫn làm khi mà sắc đẹp của cô có thể nhấn chìm cả một thuyền đầy những bà cô khác, với áo váy diêm dúa nhất? Chị Thứ lại mắng, mày ăn phải thứ gì mà nói năng bổ bả. Thế giới ngày nay thật chẳng còn biết kính trọng, nể vì là sao nữa.

Nhưng rồi có lần, chị Thư mặt tái mét, kéo Linh ra gốc dừa tuốt cuối ao thì thào, đêm qua có gã say trật quần đặt của quý vào cửa sổ ngay gường chị Nhi kìa.

-Trời. Tởm quá! Thế cô Nhi sao rồi?

- Còn sao nữa, khóc suốt từ sáng đến giờ, ai hỏi gì cũng lắc đầu như ma nhập.

- Thằng cha nào mà đốn mạt thế không biết, nếu mà gặp tay em, em cắt phăng đi cho…hết đời. Mà sao cô Nhi phải khóc? Lúc gã nọ làm thế, sao cô Nhi không tri hô lên?

- Bé bé cái miệng lại đi, con quỷ. Tri hô cho xấu cả làng à. Không ai biết, mà chị Nhi còn đòi sống, đòi chết vì cảm thấy danh dự, tiết trinh của mình bị xúc phạm kìa. Còn có người biết, chắc chị ấy tự vẫn luôn quá.

- Xì. Em chẳng biết cai tiết trinh của mấy chị để làm gì? Chẳng lẽ, cô Nhi định suốt đời làm gái trinh cho đến tận răng long?

- Thôi. Về mà lo ủi mớ quần áo của cả nhà đi. Thiệt là trẻ ranh. Thế giới chúng mày là thế giới phẳng, thiệt là đúng mà. Lúc nào cũng nông choèn choẹt.

Linh bĩu môi,bỏ về.

Sau đận đó, cô Nhi bị viêm phổi, suy nhược và cuối cùng cô đã trút hơi thở vào một chiều mùa hạ, nhiều mưa. Chị Thư tắm rửa, thay quần áo đẹp nhất cho cô, trang điểm thân thể cô như một tiên nữ ngủ say. Chị phấn khích thì thầm cùng Linh: Trên ngực chị Nhi xuất hiện vệt son ở chính giữa hai bầu vú. Dấu hiện của hiện đồng trinh đó cưng.

Cha mẹ ơi! Đồng trinh đến chết để làm gì? Linh thấy tiếc. Lẽ ra cô Nhi nên sống như con người vốn thế chứ?

Ngày mai, giỗ đâu của cô Nhi. Chị Thư chuẩn bị thật nhiều thứ, nhưng hình như vật gì đó chủ yếu, chị chưa mua được. Hai chị em ra khỏi chợ, chị Thư thất vọng não nề.

- Đó là gì vậy chị ? – Linh lại hỏi, nhưng Linh nghĩ chị Thư sẽ không trả lời.

- Hồng Vật. – Không như Linh nghĩ, chị Thư buông gọn lõn hai tiếng Hồng Vật. Một lúc sau, chị thủng thẳng- Hồng Vật được nặn, khắc, hoặc vẽ. Đó là một biểu tượng ,nếu nhìn từ phía này nó là một đóa hồng, nhìn từ phía kia là một chú chim câu đang ngủ, nhìn tổng thể lại là một nụ hôn. Tất cả được chạm khắc, vẽ họa để trở quyện hết vào nhau, thành một. Đó là một biểu tượng dành cho những ai suốt đời trinh tiết, chị nghe ba chị Nhi nói vậy. Chị muốn mua biểu tượng này về cúng cơm chị Nhi.

- Trời. Thờ chi mà ác vậy kìa. Sống không chịu sống, cứ để đem thờ là sao? Linh lầm bầm nho nhỏ, để Thư không nghe thấy, vì nếu Thư nghe, chăc chắn Linh sẽ lại ăn chửi tối mặt.

 


NHÌN TỪ PHÍA ...LÊNH KHÊNH

Quan sát cuộc sống NLC

Tháng Bảy, nhiều người nói đến chuyện “Xá tội vong, nhân”.  Nhiều người đau đáu việc phóng sinh chim, cá để độ sinh, cứu mạng. Nghe thấy lòng khấp khởi vui. Ít ra, cũng sẽ có hàng trăm con vật thoát chết, trở lại với tự do?

Tự do là gì nhỉ, phải chăng là chú ong mãn nguyện với một bông hoa? Hay sẽ là một cái vợt trùm lên bông hoa và con ong nhỏ kia?

Một buổi chiều nắng chỉ còn vạt ngọn, trên bãi cỏ duy nhất còn lại trong làng, đây đó lúp xúp, lưa thưa vài bụi ổi dại nở đầy hoa đỏ chen lẫn với cây hương nhu thơm nồng nồng. Ba, bốn người xuất hiện. Họ không biết từ đâu đến, và đến từ khi nào, chỉ thấy họ đi từ nhiều hướng, tay cầm sào dài bốn năm thước, vừa đi vừa khua, vừa đuổi một cái gì đó. Cuối cùng, những chú chim sẻ vù bay lên, những chú chim Ri dính vào tấm lưới bên trên các lùm cây, chúng vùng vẫy trầy trụa, cánh gãy, lông bay tả tơi. Những chiếc tổ rụng xuống, trên mặt đất tung tóe những chiếc trứng nhỏ bằng ngón tay vỡ nát. Cái trứng nào không vỡ thì họ nhặt sạch. Bầy chim cút chạy lạch bạch, không kịp vù lên vì bất ngờ thì coi như vô phương tẩu thoát.

Cũng trong những ngày đó, ngoài chợ xuất hiện nhiều người bán Cò Lửa, Cò Nâu. Chúng được cột túm lại với nhau, cánh bị bẻ, hoặc bị cắt đi. Hạng chục, thậm chí vài chục lồng chim đủ thứ, từ chim Ri, đến Se Sẻ. Từ Kéc xanh đến Chìa Vôi. Mà đông nhất là chim Sâu, chim Ri, chim Sẻ Kiến chỉ bé bằng ngón tay, đôi chân nhún nhảy trong lồng bé xíu như tăm tre.

Những lời mời chào hót lên lảnh lót, náo nức: Mua đi. Mua đi! Mua chim phóng sinh làm phước, làm phúc!  Lễ Vu Lan  sắp tới rồi. Mua chim mà thả mà tạo chút phúc đức báo hiếu công cha, nghĩa mẹ!

Nhiều người mua. Chim giá nào cũng có, từ vài trăm đến vài ngàn một con. Có nhiều người, vung tay mua hàng trăm con, nét mặt sung sướng ngời ngời với niềm tin thánh thiện.

Ôi! Giá như đừng ai mua. Giá như đừng có cái nhu cầu mua chim, mua cá để thả về trời thì bầy chim kia, đàn cá kia có thể bị đánh bắt vì những lý do khác ( mà những lý do đó đã hàng hà sa số rồi) chúng sẽ được miễn, hệt như con người sẽ được miễn một loại thuế, hay một loại phí nào đó như phí bình ổn xăng, dầu chẳng hạn, thì đỡ khổ nạn như cái nạn chúng bị bắt vì sẽ được thả, lấy phước cho con người. Và nhờ ơn huệ, không có nhu cầu thả, phóng sinh đó,  sự bình yên của chúng không bị dẫm nát, ngay nơi mà tạo hóa đã dành cho chúng một chỗ nhỏ nhoi để sinh con, đẻ cái, để tung cánh dưới bầu trời xanh và vút tiếng hót líu lo.

Sự việc có muôn mặt. Nhìn từ phía ngược lại là cái nhìn luôn làm đau lòng người, dù biết rằng cuộc sống là phải thế, luôn thế.

 

 


THAN KHÔNG THÀNH TIẾNG

 

Tản văn NLC

Từ trung tâm của Sài Gòn náo nhiệt, cuối đường Nguyễn Huệ, đầu chợ Bến Thành, bạn có thể bước lên chuyến xe buýt Bình Quới, chỉ bốn ngàn, một vé. Gần một giờ sau, bạn đã có thể ở trong một không gian yên tĩnh với những dòng kênh xanh có hàng dừa nghiêng nghiêng soi bóng, có con đò chở đôi uyên ương đang tự tình, những  hàng chuối cháy đỏ ngọn lửa thắm bằng nhiều chùm hoa tưng bừng, những nhịp cầu tre cong cong và dù đang diện giày cao gót, bạn vẫn có thể vịn tay lên hàng cây chênh vênh, bước từng bước dè dặt, để trải nghiệm cảm giác lắc lẻo…

Không biết đã có lúc nào khu du lịch sinh thái đồng quê Bình Quới này thật sự dập dìu hay chưa?  Còn ngày tôi đến, hôm đó là một thứ bảy, nhưng khách lưa thưa. Đông nhất là vài mươi cặp với bầu đoàn đến chụp ảnh cho ngày cưới. Có thể ngắm những cô dâu xinh đẹp trong hàng chục kiểu trang phục thỏa thích. Có cô dâu chọn lựa kiểu áo dài cao cổ thời thập niên 50-60 với tóc thắt bím, quần lĩnh. Chú rể diện sơ mi có queo đeo. Cũng có thể ngắm những chiếc áo váy đuôi dài hàng chục mét, lướt thướt trên nền gạch mà lo lắng dùm cho người mặc vì áo quá nặng, giày quá cao…Có những "nhà" nhiếp ảnh râu tóc dài và ngầu như cướp biển vùng Ca-ri-bê, ống kính lủng lẳng, đen, hườm hườm, như họng súng trên tàu quân đội Hoàng Gia Anh. Đến trưa, khách tản mác vào những lều tranh, nằm trên các chiếc võng. Số còn lại mướn cần câu, kiếm giun hoặc mồi đã mang theo và bắt đầu câu cá.

Có một gia đình ngồi câu ngay bên bàn ăn của mình. Bếp lửa hừng hực suốt buổi, nhưng không chú cá nào bị đánh lừa. Hai đứa nhỏ thất vọng nhìn lưỡi câu như nhìn quái vật đang ngủ. Bên kia ao, nhiều tốp sinh viên ngồi tụm vào từng cụm, họ kêu ré lên vì một chú rô phi thiếu niên đã ăn phải sự dụ dỗ của miếng mồi. Thêm một chú nữa, một chú nữa. Không gian tĩnh lặng bị khuấy động chút ít. Mặt nước ao xanh dền cũng bị khuấy động, và những tiếng thét vừa kinh ngạc, vừa phấn khích vang lên khiến những người quanh đó đều nhìn vì tò mò. Ôi, một con cá rô đầu vuông to bành ki đã cắn câu. Không. Không phải cá rô đầu vuông, loại cá được cho là đã lai tạo với cá lóc, mà là một con cá có hình thù lạ lùng, hệt như một con kình ngư nhỏ, vây, vẩy cứng, mình đen sẫm. Nó là cá lau kính. Một loại cá kiểng đang được ưa chuộng và khá đắt giá. Sao nó lại có mặt trong chiếc ao hạ tiện này được nhỉ, và nó chỉ ăn rong, rêu, sao lại dính câu?

Ôi không!

 Nó không ăn câu, không ăn mồi, mà nó dính câu vì lưỡi câu đã móc vào gần đuôi của nó.

Không ăn mồi câu, không tơ màng đến những sự cám dỗ, không vấn vương chốn thị phi, vậy mà con cá Lau Kính lại dính câu bằng một cách khó ngờ nhất trong cuộc đời nó. Nó nằm thở ngoi ngóp trên bãi cỏ. Những cô cậu sinh viên mãi rồi cũng cuốn câu và ném con cá Lau Kính vào túi nilon cùng chung số phận với bầy thiếu niên Rô Phi cửng cửng.

Con cá Lau Kính ngửa mặt lên trời mà không than nổi tiếng nào.

Bạn đã bao giờ ở vào tình cảnh của con cá Lau kính chưa?

Nếu chưa, thì bạn rõ ràng là người còn nhiều may mắn. Hãy tận hưởng niềm may mắn của bạn khi còn có thế.


KHÔNG PHẢI TÔI

 

Truyện ngắn NLC

Hôm nay, ngành Liên Hoàn tổ chức hội nghị Liên Thông, một hội nghị mang tầm thời đại bởi tính chất bao quát mọi lĩnh vực và chuyên sâu từng mảng, khối của tất cả các vấn đề kinh tế, đối ngoại, văn hóa, xã hội, thậm chí cả an ninh. Vì thế, thôn Ngan đã bỏ ra bốn tháng liền huy động mọi thành phần ưu tú nhất tham gia công việc tổ chức. Các văn bản không chỉ chuyền tay nhau đọc chéo, góp ý nội dung mà còn chú ý các từ ngữ. Các chữ nào mang tính chất nhạy cảm được sàng lọc kỹ đến độ lúc văn bản đưa lên Tổng Ngan ký, chữ đã đều tăm tắp, thẳng dăng như gạo trên sàng.

Tổng Ngan cũng rất chú ý đến khâu bày biện, trang hoàng gian phòng nơi diễn ra hội nghị. Đó là Hội trường vừa mới xây xong của Thôn. Bên ngoài, đã treo đầy cờ đỏ và cờ đuôi nheo đủ màu sắc. Bước vào cửa, một bàn được phủ bằng khăn vải xanh, bên trên là một bình với những bông hồng to, đỏ rực được đặt tận Đà Lạt. Lối đi được trải bạt nhựa, màu đỏ. Nhìn kỹ vẫn cứ tưởng đó là thảm đỏ. Đối điện với dãy bàn chủ tọa hội nghị là hai dãy bàn dành cho quan khách. Trong đó, có một vị trí thuận tiện nhất, ngay hướng của cây quạt trên tường, đang thổi làn gió nhẻ nhẹ vào đó, là chỗ ngồi dành cho quan Kinh Lý.

Cha mẹ ơi, kính nễ thiệt đó. Mới hơn sáu giờ một chút, chiếc xe bò đầy tiện nghi đã lọc cọc trên lối đi vào hội trường. May mà Tổng Ngan luôn chu đáo, mờ sáng hôm nay đã vội chạy vào soát lại lần cuối mọi khâu chuẩn bị, cho nên vừa lúc quan Kinh Lý bước xuống, cũng là lúc Tổng Ngan có mặt với nụ cười rạng ngời, đưa tay hơi thấp, và người hơi cúi một chút, vừa chào vừa bắt tay quan Kinh Lý. Sau cái bắt tay, Tổng Trấn khoác một cử chỉ lịch thiệp, và đi trước, dẫn đường cho quan Kinh Lý vào chỗ ngồi. Phải nói, Tổng Trấn cần học tập quan Kinh Lý rất nhiều, quan xuống xe xong, cậu thư ký mới lục tục xuống và cầm chiếc cặp đứng nép lại đàng sau vài bước chân để tỏ rõ ai có phận nấy. Bọn trẻ ở ngành có được như thế đâu. Chúng cứ lau nhau, chẳng phân biệt nỗi đâu là thầy, đâu là tớ nữa. Mà phục nhất là trang phục của quan. Quan trên có khác, chắc là có thợ may riêng. Bộ véc màu phơn phớt xanh, ôm vừa vặn thân hình có hơi đẩy ra một chút của quan. Nhưng chính sự đẩy đà đó khiến tướng quan càng oai vệ. Chiếc sơ mi bên trong ló ra một chút nơi cổ, và nơi bàn tay, được gài bằng hạt nút đá màu đen lấp lánh. Có thể đó là đá sa-pia. Sau này, mình phải dành thời gian phổ biến điều này cho giàn cán bộ thân cận và giàn tham mưu mới được. Nhìn vào cách ăn mặc, người ta đã kính nễ thì trong đối tác, hợp tác mình cũng chiếm phần ưu việt là đều rõ ràng. Vừa nghĩ, Tổng Ngan vừa hối hả bố trí lại tất cả các khâu và mời quan khách vào vị trí để khai mạc hội nghị đúng giờ. Có lúc, Tổng Ngan không khỏi bực mình vì thái độ lề mề của một số khách trong tổng. Giờ giấc cứ dây thun mãi, thụt lùi so với thế giới cũng chính là vì cái điểm không chính xác giờ hội họp, giờ hẹn với khách này đây. Nhìn quan Kinh Lý mà học tập kìa.

Vừa là xả nổi bực dọc, cũng vừa để kéo sự chú ý của quan khách về phía mình khi Tổng Ngan nói hơi lớn tiếng câu trên. Liếc một cách kín đáo cái hiệu quả mình vừa tạo ra, Tổng Ngan sửa lại bộ đi cho thật oai vệ đồng thời cũng hết sức tao nhã, lịch thiệp, Tổng bước đến trước quan Kinh Lý nói khẽ:

- Thưa Sếp, chúng ta bắt đầu được rồi chứ ạ. Quan Kinh Lý nhìn quanh, khi xác định Tổng Ngan đang nói với mình thì hốt hoảng xua tay, đầu lắc như chong chóng được gió.

- Tôi không phải là sếp. Sếp ổng chưa vào hội trường.

Mắt Tổng Ngan trợn ngược, miệng há hốc, lắp bắp- Vậy Sếp đâu, Sếp không đi cùng cậu à?

- Có. Lúc nảy tôi đi cùng ổng chứ sao. Nhưng khi xuống xe, ông cứ bắt tay rồi kéo tôi vào đây tuốt tuột. Sếp đi đâu, tôi sao biết đươc. Vì việc của tôi cũng là theo dõi mọi diễn biến của hội nghị đặng còn báo cáo lại mỗi khi Sếp hỏi. Mà Sếp đã hỏi thì hổng biết đâu mà lần, nên tôi đâu dám bước ra ngoài kiếm Ổng.

- Cậu làm ơn làm phước tả Sếp dùm tôi.

- Hồi nảy trên xe có ba người, tôi, lái xe, còn cái ông mặc sơ mi xanh, bộ dạng bình thường nhất, đó chính là Sếp.

- Ối trời. Vậy nảy giờ Sếp ở  đâu ?

- Tôi e, Sếp ngồi với bác bảo vệ ngoài cổng, hay cũng có thể đang trò chuyện với mấy anh chị dọn vệ sinh quanh sân, vườn!

Mồ hôi túa ra như mưa rào trên mình Tổng Ngan, ông ta chỉ kịp quệt ngang trán cho những giọt nước mặn trong tràn vào mắt,  bộ cánh vừa diện sớm nay trở nên chật hẹp và xộc xệch khi Tổng Ngan chạy như…vịt và không biết chạy hướng nào để tìm Sếp.


HÃY ĐỢI ĐẤY VÀ...

Tự truyện Nhặt Lệ

 Cậu bé đang thất thểu bước chân yếu ớt, nên dù rất cố gắng nó lại vấp ngã. Nó cố gượng ngồi dậy nhưng rất khó khăn. Bổng có một đôi tay nâng nó dậy, nó vui quá và sà vào trong lòng người ấy như tìm một hơi ấm mà nó  đêm ngày mơ tưởng, thèm khát. Nó vui. Nó cười sung sướng. Niềm vui ấy bừng lên trên đôi mắt thơ ngây của nó. Nhìn nó thật đáng thương, vì khi nó ngước lên nhìn,  người đỡ nó không phải là ba, hay mẹ  mà nó thường mong đợi...

Tên nó là Côi.

…………

 

Ha ha mát quá tụi bây ơi ! Bọn trẻ hò hét, chạy nhảy, lặn ngụp, hai tay không ngừng tát nước vào mặt nhau ở dưới sông Đại Hàn. Sông Đại Hàn hơi sâu, hai bên bờ là vườn cây có nhiều rặng dừa, dưới đáy đá cục rất nhiều. Nhưng bọn trẻ không ngại chút nào. Chúng là những tay bơi, lội giỏi nhất xóm. Lúc này, chúng lấy đá ném vào mặt nước cho nước bắn tung để lắng tiếng bùm bùm đầy phấn khích.

Dưới chân cầu Đại Hàn có một cái bậc hơi cao, phía dưới là vũng nước xoáy. Bọn trẻ coi nơi này là chỗ lý tưởng để nhảy ùm xuống sông và bơi thoăn thoắt ra khỏi vòng nước quay tròn. Chúng bắt đầu cuộc thi, ai nhảy cao nhất, tạo nên tiếng bùm to nhất khi đít chúng chạm xuống mặt nước.

Tất cả tập hợp lên gò cao!- Thằng Tín, đứa to nhất trong đám ra lệnh. Lúc này, chẳng có đứa nào mặc gì cả, dưới ánh nắng hoàng hôn trên sông, nhìn tất cả như những bức cái tượng mà người  ta hay trưng bày.- Tín lại nói:

Thằng Trúc nhảy trước, tới thằng Tuấn… Bùm bùm bùm. Bọn chúng lúc đầu còn nhảy theo lời thằng Tín, sau thì mạnh đứa nào nấy chen lấn mà nhảy. Tiếng chạm nước khiến chúng reo hò không ngớt và lời bình phẩm cũng được tung ra. Cái mông thằng Trúc, thằng Tuấn nghe không đã bằng thằng Tèo Bành. Cái mông to béo của nó chạm nước tạo nên một tiếng kêu như đại bác bắn từ chi khu Long Hương sang La Gàn vậy. Mà tệ nhất là thằng Côi, cái mông lép xẹp như cái bánh dẹp, lúc chạm nước chỉ nghe tiếng bum não nề.

Vậy là nó phải chấp nhận chịu thua thôi, chịu phạt bơi từ bờ bên này sang bờ bên kia và ngược lại. Ê Côi, bơi đi, bơi đi.-  Thằng Côi ngoan ngoãn lao ra dòng nước bắt đầu cuộc chung thua, do mông không kêu. Nó nhỏ, nhưng dai sức, con sông không làm sải tay nó mỏi được. Nhưng khi qua bên kia bờ, nó nhìn sang thấy tụi bạn đã mặc quần áo vào rồi lùa bò về. Nó lao vút xuống dòng nước trở lại, miệng không ngớt la oai oái. Ê! Tụi bây chơi gì kỳ dzậy ? Trả quần áo lại cho tao!!! – Bọn trẻ cười hơ hơ, tỉnh queo lùa bò về, chúng ném lại cho thằng Côi niềm an ủi: Lên thành cầu mà lấy!

Thằng Côi tức lắm, nhưng biết làm sao. Bọn chúng đã đi xa, nó đành hai tay bụm chú nhỏ teo rúm vì lạnh chạy ù lên thành cầu, lấy quần áo rồi chui vào bụi nhãn rừng cuống quít mặc vào, miệng không ngớt lầm bầm: Tụi bây nhớ nghe, rồi tụi mày sẽ biết tay tao…! Hãy đợi đấy!

…..

  NGƯỜI CHỊ VÀ...

Hôm đó, thằng Côi lùa bò về muộn, nó mới vừa bưng tô cơm định và thì nghe ngoài cổng có tiếng gọi: Bà Rắn ơi ! Bà Rắn…Bà Rắn là chị họ của thằng Côi. Không. Là bà chủ của thằng Côi. Tiếng ông Bảy Tần, chủ bàn bi da đầu xóm. Bà Rắn từ trong nhà đi ra.- Gì vậy anh Bảy ?

-Có thằng Côi trong nhà không ? Bà Rắn nhìn ông Bảy dò hỏi, miệng nói- Nó mới về, đang ở trong nhà…

Mặt ông Bảy hầm hầm. Ông ta  hét lên:

- Bà biểu nó trả lại tiền cho tui. Tui mất tám trăm đồng để trong hộc bàn. Nó lấy chứ ai !

Bà Rắn quay vào trong nhà, réo lên.- Côi ! Thằng quỷ. Ra tao biểu !

-Dạ ! Thằng Côi dạ, vừa sợ hãi chạy ra. Nó ra đứng nép bên vách tường nhìn bà Rắn và ông Bảy. Con mắt bà Rắn nhìn nó muốn nổ đoành, mặt bà ta dày lên đầy sát khí.- Mày trả tiền lại cho ông Bảy ngay, không chết với tao!

Côi ngơ ngác nhìn ông Bảy và bà Rắn,- Dạ, tiền gì ạ?

Ông Bảy chỉ tay ngón tay vào sát vào mặt thằng Côi, miệng chửi không kịp thở:

Thứ mầy tham lam. Tám trăm đồng của tao để trong hộc tủ, mày mới đi ngang qua đó, giờ không còn nữa. Mày lấy chứ ai !

Thằng Côi run sợ, mặt nó tái mét, giọng nó run rẩy và uất nghẹn ấm ức. Nó  kêu lên tiếng kêu oan uổng, bi thương, dù biết chắc không ai nghe, không ai tin. Chỉ vì nó mồ côi, và là đứa ở chăn bò, thất học.

- Ông đừng có vu oan cho cháu. Tôi không có lấy! Mấy người thấy tôi nghèo là cứ thích đổ thừa hả?- Hình như người nghèo ít khi có lý. Nghèo mà nhỏ, mà côi cút càng không có lý chút nào. Và đúng như thằng Côi nghĩ, Bà Rắn đã vung cánh tay, dùng hết sức của người chuyên gồng gánh, tát thẳng vào mặt thằng Côi một cái. Cái tát khiến đầu nó dội vào tường nghe binh. Năm ngón tay của bà Rắn lập tức hằn đỏ rực như một vết tô điểm của quỷ cái, lên gương mặt không còn chút máu  trên má thằng Côi, còn đầu nó thì có thêm một cái sừng u to ù. Đau ở thân xác. Điếng ngắt ở tâm hồn. Thằng Côi chới với kêu khóc. Nó nói, chú ơi, chú xem lại coi có rớt đâu không,  chứ cháu không có lấy mà, tha cho cháu đi! Hư hư…

Ông Bảy không tỏ ra nguôi giận mà còn  hung hăng hơn. Ông nói oang oang:

-Mày lấy chứ không ai hết cả. Chỉ có mày là bỏ về trước. Khôn hồn thì trả lại cho tao, không tao gọi cành sát bắt mày lên đồn bỏ đói tiêu luôn đó con .

-Kêu cảnh sát bắt nhốt cho chết cha nó, đồ tham lam, ăn cắp .- Bà Rắn phụ họa. Thằng Côi càng khiếp sợ. Cảnh sát bắt là cái từ khủng khiếp nhất đối với nó. Hai chân run bắt đầu run, nó sắp quỵ xuống, hai tay bấu vào tường cho khỏi ngã. Nó cố gằng tự chở che cho mình trong tuyệt vọng. Tiếng nó thút thít nói:

- Thiệt mà chú,  con không có lấy đâu chú ơi. Đừng kêu cảnh sát bắt con chú ơi !- Tiếng cầu xin tha thiết của nó thật thảm não và rơi vào vòng xoáy thị phi nơi cõi trần ai không có đáy. Dù đó là tiếng kêu oan ức,  yếu ớt của một đứa trẻ mà con người gọi là thiên thần. Nhưng  trước cặp mắt cú vọ trẻ thơ thường là món mồi ngon hơn những tầng lớp khác.

-…Ba ơi ! Có tiền rồi ba ơi !...- Tiếng reo bất ngờ, lảnh lót giải cứu thằng Côi khi bà Rắn định cho nó thêm một bài học. Đó là tiếng con Thủy, con gái  nhà ông Bảy. Nó nói trong hơi thở hổn hển:

- Tiền có rồi ba. Mẹ lấy cất hồi nãy. Mẹ cất ở trong phòng đó ba…!

Hai con hổ hung hăng giờ như hai con hổ giấy ướt nước, họ nhìn thằng Côi đang té quỵ dưới thềm bằng đôi mắt thủy tinh, rồi kẻ lẳng lặng bỏ về, người bỏ đi như chưa từng có điều gì xảy ra.

 


GIÓ CHƯỚNG

Truyện ngắn NLC

 - Chị đừng có hòng đụng vô một cục gạch ngôi nhà này nghe. Tôi mà để chị yên, tôi làm con chó ăn cứt khắp thiên hạ.

Cô em rống lên với gương mặt đỏ vằn hệt con tôm luộc dở. Bà chị lạnh lùng, nén thủng thẳng từng tiếng như người ta ngắm thật chính xác rồi mới phóng một mũi dao- Tao đụng một cục gạch làm chi cho mệt xác ha mày. Đã đụng, tao dở luôn nhà, bán luôn đất thử coi con nào, thằng nào làm gì được tao. Hung lắm thì cũng xách quần nhảy đông đổng cho thiên hạ coi chơi, chớ làm gì được ai mà dóc, dóc.- Nói xong, cô chị rú ga chiếc xe máy nảy giờ vẫn nổ rồi vù thẳng. Bà mẹ đứng lặng bên bậc thềm, tay còn cầm bó dây lang vừa mua đầu ngỏ về định bỏ cho con heo nái mà chưa kịp làm. Bà thổn thức:

- Hai chị em mà còn quá kẻ thù. Tụi bây không sợ chòm xóm họ ỉa vào trong mặt hay sao mà tranh, dành chút nhà thờ của ba bây để lại. Tao hãy còn sống đây, bây đợi tao chết đi đã rồi hãy giày xé nhau cũng được chớ!

- Chết. Mẹ chết còn ai bênh bà kia. Mẹ không thấy bà ta vênh bản mặt lên thách thức tui sao. Để đó, tui thuê bọn “ cô hồn” tụi nó dạy cho khôn ra rồi bà ta  mới biết, mẹ muốn bênh thì cứ tùy thích.- Nói xong, cô em cũng coi mẹ như cây bàng khô quắt trong sân, cô ta chẳng buồn nghe thêm một tiếng nào của người mẹ mà nổ máy xe chạy như nếu chẳng thế sẽ không còn kịp để nhận một thứ gì đó.

Người mẹ sa nước mắt, bà ngậm ngùi sụt sịt, đưa tay vừa quyệt đôi mắt đỏ hoe, vừa tiếp tục đi làm công việc đang dở dang, bà cho con nái ăn bó rau tươi.

Trong chuồng, con nái già vừa mới đẻ mười hai con. Bọn heo con đang đói, chúng tranh nhau tìm vú mẹ. Con đen, là con heo đầu đàn, to nhỉnh hơn những chú heo khác, nó rất tinh nghịch. Chiếc vú của nó là chiếc thứ mười hai, nằm ở hàng dưới. Bà Út, tên người mẹ, đã cố ý cho chú bú ở đây để khỏi lấn những con heo nhỏ hơn. Nhưng chú heo Đen cứ húc đầu đùa nghịch hết vào con này, thì đến con kia. Chú heo có hai chấm trắng trên lưng bị một cú hích của Đen, vú tuột ra khỏi miệng, Hai chấm trắng kêu éc lên một tiếng than vãn. Con nái đứng dậy tức thì. Nó lập tức tỏ thái độ không hài lòng và vừa bỏ đi, vừa kêu những tiếng kêu đầy vẻ răn đe. Mươi phút sau, con nái mới bắt đầu nằm nghiêng xuống. Bầy con lại nhao tới tìm vú. Một con một chiếc. Vú con nào, con heo đó ngậm. Khi tất cả đã yên ổn, trật tự được thiết lập, nái mới bắt đầu tiết sửa. Bầy heo ngoan ngoãn nút chùn chụt.

Bà Út nhìn bầy heo, bụng nghĩ thầm, con Nái có mười hai con, nó chẳng cần chữ nghĩa, chẳng cần cao sang gì, vậy mà bầy con của nó mới ngoan làm sao.

Nước mắt người mẹ già lại dàn dụa trên gương mặt nhăn nheo.  

Đầu hè, gió chướng thồi giần giật.


PHÁO CỦA THẰNG CÔI

alt

Tự truyện Nhặt Lệ

           Thời gian vẫn trôi theo lối riêng của mình dù vẫn đi qua bốn mùa và lúc này đang là mùa xuân.

 Nhìn xem, sức sống của muôn loài, muôn vật cứ như vừa được tặng món món quà kỳ diệu để trong túi áo, rồi theo bước chân đi, hương thơm và  và màu sắc cứ thề tuôn tràn trề trên cây cỏ hoa lá, khiến cho chồi, lộc nảy nở không ngừng.

Mưa phùn nhuộm đều trên những mái tóc. Làn da những cô gái thay đổi trong nắng xuân. Mỗi mùa xuân đều có một phong thái riêng, tiếng nói riêng  và hệt như một vũ khúc xoay tròn theo mười hai  con giáp.

Nhưng Xuân có vẻ như như chẳng liên quan gì đến tấm thân tiều tụy của thằng Côi. Nó vẫn như mọi ngày. Có khác chăng là bộ quần áo mới đang làm cho nó trở nên kỳ quái hơn bởi sự củn cởn, vì vậy, quần áo thay vì chở che, bao bọc và làm cho người ta ngọt ngào thì quần áo trên người thằng Côi đang trở thành một sự nhạo báng đầy mỉa mia.

Thằng Côi chẳng biết làm gì hơn ngoài sắm cho mình bộ mặt thản nhiên và cắm cúi đi lượm pháo ở những nơi vừa xong tưng bừng. Nó cố gắng không nhìn vào những bộ quần áo mới, súng sính, rực rỡ mà các bà mẹ, ông bố nâng niu ướm vào người con cái của họ. Nhất là mấy đứa con gái, chưng diện trong bộ cánh mới nhiều màu sắc sặc sở, hệt như bướm trên cánh đồng lúc hoa nhãn đang nở. Thích nhất là trong túi đứa nào cũng đầy bao lì xì, đứa  ít nhất cũng được hơn trăm đồng.

Thằng Côi đứng nép bên gốc me Tây ở ngã tư làng, mắt nhìn mọi cảnh vật rộn ràng trong nắng xuân, tay nó lúc nào cũng vịn chặc túi áo nơi ngực. Bổng có tiếng hỏi:

 - Ê Côi , tết này mày có bao nhiêu đồng?

Mặt thằng Côi sáng rỡ, nó hãnh diện móc trong túi áo ra khoe, tao có 5 đồng nè, bà chủ nhà lì xì hồi sáng đó.

Nhìn nó với 5 đồng trong tay mà thấy thương. Nếu mua 1 cái bánh ú và ly nước đá hột é thì sạch bách!

 Hai bầu 1 cua…13 là tài…Tiếng đập đá bốp bốp …Tiếng leng keng của chú bán cà rem. Tiếng bọn trẻ chơi bầu cua rú ầm ỉ, cua, cua trúng rồi, tôi trúng…Âm thanh ngã tư lúc này thật rộn ràng trong ngày xuân. Thằng Côi lửng thửng tiến tới quán định mua ly nước đá hột é. Bổng vang lên âm điệu chanh chua của tụi con Thơ, con Liên và mấy đứa con gái nhà giàu trong xóm.

-Ê thằng Côi “ Áo vũ cơ hàn “ kìa tụi bây ơi ! Tết mà nó chỉ mặc có bộ đồ tay cụt quần cụt, mà vải ú nữa chớ, vậy mà cũng bày đặt ra đường ăn tết, kìa tụi bây!!!

-Ê! Ê! Ê…

 Thằng Côi mặc tụi nó nói gì. Nó quá quen với sự khinh thường của tụi nhà giàu rồi. Nhưng nó sựng lại tím mặt khi con Liên hét lên, tụi mày xê ra kẻo nó lại gần làm dơ đồ mới đó, mà cũng coi chừng nó lấy cắp tiền của tụi mình đó!

Lòng thằng Côi bổng nhiên tràn một làn hơi từ đâu đó trong cổ họng khiến nó thấy nghẹt và tức. Nỗi buồn không thể nào ngăn cứ thể chảy tràn trền xuống tâm tư nhỏ bé của nó. Chẳng nói, chẳng thưa, thằng Côi đi một mạch sau chuồng bò nhà ông Trọng. Nó lui cui tìm  một cái gáo dừa. Nó lấy đầy phân bò bỏ vào đó rồi cắm vào chính giữa một viên pháo nó lượm được trong lúc người ta đốt Giao thừa còn sót lại.

Nó mơn tới chỗ đống cây nhà con Thơ, tụi con gái đang ngồi thưởng thức ly nước đá mua ở quán bà Thi, những đôi môi cong cớn vẫn không ngớt lời nhạo báng về thằng Côi gớm ghiếc. Côi đặt chiếc lon phía sau lưng tụi con gái xong, nó Côi cầm đoạn nhang đang cháy châm vào viên pháo rồi bỏ chạy.

    Một tiếng bùm vang lên !...Bọn con gái rú oai oái, khóc ré lên...

  Nắng xuân vẫn óng ả chan đầy khắp nơi. Mùa xuân vẫn cứ đi theo lối riêng của nó. Tiếng pháo của thằng Côi không khiến Xuân bận lòng chút nào.


ỐC...CÁC KIỂU

alt 

NLC

Một cuộc điện thoại khi xe giữa đường đến Tây Ninh, bạn nói rất hồ hởi trong ống nghe, nhớ ăn Ốc đá không thì hối hận đấy, nghe nhạc Trịnh ở quán nhạc sống nữa mới gọi là đã đến vùng Thánh Thất.

Bạn đã liệu như thần. Trên bàn tiệc hạng a 1 đã xuất hiện một đĩa ốc với những con ốc có đường xoắn hình tròn, màu nâu sẫm. Mỗi con to bằng chiếc nắp bia chai đã đập dẹp để chơi trò ném lia thia lúc còn túm quần chạy theo gió.

Chỉ cần một cây tăm là đã có thể rút ruột Ốc Đá dễ dàng. Thịt Ốc Đá nhĩnh hơn ốc Xoắn, ốc Nhồi chút ít… Khi chấm Ốc Đá vào chén nước mắm được pha chế hơi chua chua, hơi ngọt ngọt và cay cay thì nghe trong bàn ăn nhiều tiếng xuýt xoa và nhìn thấy những cái đầu gật gù tán thưởng. Một ký Ốc Đá chưa chế biến giá một trăm năm chục ngàn. Với giá này không phải ai cũng có thể nếm được “con cua, con ốc” miệt thị thành. Ngẫm ra cũng thấy xứng đáng lắm, bởi hình dáng Ốc Đá có chút gì đó có thể gọi là “mỹ nhân” so với vài loài ốc đồng khác. Ui không. Ốc Đá không phải là ốc đồng mà người Tây Ninh nói, nó ở trong đá, trên núi. Thôi thì, gọi nó là loài ốc  nước ngọt vậy.

            Diện kiến nhau lần đầu, Ốc Đá không chỉ khiến tôi nghĩ đó là loài ốc đẹp mà nó còn gợi biết bao kỷ niệm trong tôi. Một ngày thửa ‘cắp sách đến trường”, tôi từng được Mai đãi món bún ốc trên phố Hà Nội. Bà bán bún ở ngay đầu ngỏ nhà Mai. Gánh bún gần với nơi có vòi nước dùng chung cho cả phố. Bà bán bún quẫy chiếc gáo to bằng miệng bát vào nồi nước sôi sùng sục, rồi chan gọn vào tô bún đã có sẵn rau hành. Vài con ốc trắng phau nằm tênh hênh trên miệng bát bún. Cắn vào miệng, sựt, ngọt lừ. Nhớ đến tận bây giờ.

            Ốc nấu bún Mai từng đãi tôi thời tóc ngang vai, mắt mướt và xanh như “vườn ai” là ốc Xoắn, tên gọi của người miền Nam, ốc Vặn, tên người miền Trung gọi, và ốc Nhồi tên Mai gọi. Thưở người tôi cháy khét mùi bùn đen, loại ốc này phơi mình dày đặc trên những dòng suối dưới chân đồi Bảo Đại. Đồi Bảo Đại bây giờ vẫn còn, nhưng con đường rợp bóng hai hàng cây Vú Sữa chạy vòng từ dưới lên trên đỉnh đã biến mất cùng với những cánh rừng bao bọc, con voi Trắng mang xích vàng trên cổ và những dòng suối lượn quanh. Bây giờ đến nơi này, chẳng thể nào hình dung ra được là chúng từng có mặt.

Ngày ấy, tôi có thể lượm bao nhiêu ốc tùy thích. Ốc mang về ngâm nước vo gạo một đêm, sáng mai đem hấp với Sả, cùng một ít vỏ Thơm, thêm chút Muối rồi, lá Chanh rồi đem xuống lể ra, chấm nước mắm Gừng pha đặc sền sệc…Tôi e rằng tất cả những kiểu dáng khác điều phải nghiêng mình…thua. Kể cả mỹ nhân…kế.

            Nhưng với riêng từng người, món ngon còn phải gắn cùng một điều gì đó. Tôi từng ăn món ốc đầy cát tại một chợ đêm, thú vị hơn bất kỳ món ốc nào. Bữa nọ, ở chợ ẩm thực ban đêm, chúng tôi gọi một đĩa ốc xào Sả, Me. Loại ốc nước lợ, con nho nhỏ bằng ngón chân, trên mình có điểm những chấm nâu, màu da như men sứ trắng, nhìn mắt chợt sáng long lanh. Nhưng khi vừa bỏ miếng ốc đấu tiên vào miệng thì trời ạ, cát mịn và dày, và nhám tràn ra lấp hết mọi cảm giác khác.

            Thế nhưng đến con thứ hai, con ốc thứ ba và đến hết, cát đã biến mất, chỉ còn vị ngọt, ngon, thơm lừng, cay xé của món ốc xào. Nhưng tôi không lể ốc, Ngỗng đã làm việc đó, Ngỗng thổi một làn hơi vào mỗi con ốc và…ốc trở nên ngoan quá đổi.

           

 


TÒ MÒ

NLC          

Một lần  ngồi đợi Oanh tại ngả ba Ông Đồn, thả hàng giờ lội trong một tách cà phê, ngó những chiếc xe ngược xuôi, những bàn chân đầy bụi, những gương mặt nhàu nhĩ vì đường xa, vì riêng tư, chợt nghĩ vẩn vơ:

                     Một ngày rồi chợt thấy

                     Mình ngồi nơi ngả ba

                     Trước mắt là hoang hoải

                     Sau lưng ngợp Ta Bà…

                     Còn Oanh thì than thở: “Rời Phan Thiết từ 4h sáng, đến 5h15 Lâm Cúc đã gọi điện: “Mình đang ở ngã Ba ông Đồn chờ Oanh“. Chúa ơi, hẹn 6h mà đến sớm thế. “Ừ, uống café đi nhé, còn lâu em mới tới”. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng đợi Oanh, như sáng nay chẳng hạn, chiếc xe chở tôi đi đã chạy vận tốc rùa lật ngữa ngay lúc mới sinh. Với gần bốn chục km, nó ngốn gần một trăm năm chục phút. Không hiểu mấy ông sáng chế ra chiếc xe nghe được tin này có đột quị không nhỉ?

                     Không biết lúc Oanh ngồi đợi tôi Oanh đã nghĩ gì, còn tôi đầu óc không lành mạnh nên ý nghĩ càng mờ ám, có lần tôi tự hỏi, tại sao người ta không gọi ngả ba này bằng cái tên gì khác mà gọi là Ông Đồn? Câu hỏi này phải đến hơn mười năm sau mới đủ duyên để khai mở. Đó là buổi sáng không báo hiệu điều gì cả, anh Mậu bổng nhiên đến tìm tôi gọi đi uống trà. Câu chuyện của anh nói về một người tên Phan Nghị. Ông có liên quan khá nhiều đến một vùng đất, trong đó có tỉnh Bình Tuy và Đồng Nai Hạ. Đồng Nai ngày trước có đến hai nơi, Đồng Nai Thượng thuộc huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai Hạ là vùng Xuân Lộc, thuộc tỉnh Đồng Nai bây giờ.

                     Ngả ba Ông Đồn nằm trên quốc lộ Một A. Nhưng ngả ba đó bây giờ nằm trước những đơn vị hành chánh của huyện Xuân Lộc, bên kia con đường là một quảng trường đẹp. Phía xây dựng các dãy nhà công sở, thời Pháp thuộc cũng là nơi lập đồn bót quân Pháp. Cái bót ấy luôn luôn có lính canh giữ Đồn bên trong. Người đi qua, đi lại nơi này gọi ngả ba là nơi có lính canh đồn. Về sau câu nói tóm lược, giản đơn đi chỉ còn là Ông Đồn. Cái tên Ông Đồn hình thành từ đó.

                     Thì ra là vậy.

                     Chưa đọc được tài liệu nào nói về cái tên của ngả ba này, nên tôi tạm ghi lại chuyện cái tên để mua vui mỗi khi ngồi chờ ai đó và coi đây là một sự hữu duyên.

                     Đúng vậy! Không có duyên ta mãi mãi quan san cách trở trong đời này, kiếp này, đúng không Ngỗng ơi?


1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18  Sau»